Những gì tôi đã viết vào năm 1964 (Thiền Phật Giáo và chiều sâu tâm lí học) với một ít sửa đổi và thêm bớt làm nó trở thành một phần của (lần xuất bản) năm 1965. Bây giờ, tại thời điểm đầu năm 1972 và sau sáu năm ở Thái Lan thật đúng lúc để tôi nhìn lại những gì đã viết. Những năm qua tôi không chỉ làm dày thêm kinh nghiệm hành Thiền, chúng còn cho tôi cơ hội tiếp xúc lâu dài với những thiền sinh khác (thường là bạn thân) mà nhiều người trong số họ có tâm nguyện, thiện xảo và kinh nghiệm phong phú hơn tôi.
Người ta thường để ý đến nhiều tính cách khác nhau trong những người hành thiền. Một số xem đó như là có tính thực nghiệm, phê phán, chiêm nghiệm; những người khác lại tin tưởng hơn, tận tâm hơn, và xem như là lí tưởng. Một số có vẻ thích nghi tốt và hài lòng với chính mình và những gì xung quanh, trong khi một số khác lại có vẻ cố tìm hạnh phúc và mục đích trong cuộc đời. Một số trung thành tuyệt đối với mọi chi tiết trong kinh điển, trong khi những người khác lại thà tin theo những diễn giải và phương pháp của những bậc thầy khả kính của họ. Ngoài ra còn có những người tự nỗ lực tìm đường đi và cách tiếp cận cho riêng mình không màng tới sự giúp đỡ nào khác. Cũng vậy kỹ thuật, phương pháp mà họ thực hành thì rất khác nhau và đa dạng.
Suốt trong thời kỳ này, bằng kinh nghiệm cá nhân và sự cố vấn của người khác, tôi đã chứng kiến những gì tôi tin tưởng là những thành công thực sự và một số thất bại đáng chú ý. Vấn đề là những gì thì được gọi là thành công và điều gì là không (thành công)? Và tại sao? Hoặc xác định vấn đề một cách chính xác hơn: người ta có thể thành công trong một lãnh vực nào đó thuộc về Thiền nhưng không phải trong một hướng khác.
Để có thể đánh giá đúng mức sự tiến bộ trong việc hành Thiền người ta phải có những tiêu chuẩn hay thước đo để làm giá trị. Như vậy chúng ta phải tự hỏi mình đó là cái gì, Niết bàn chăng? Phải chăng chúng ta mong đợi tìm thấy nó trong những người đã có những tiến bộ đáng kể trên Bát Chánh Đạo? Những khoảnh khắc ngắn ngủi của sự thơ thới, nhận thức thay đổi, hay những trạng thái kỳ lạ của tâm thức dù chỉ thoáng chốc đều không phải là những gì chúng ta tìm kiếm. Cũng vậy chúng ta không theo đuổi những năng lực siêu phàm, sự bất thường của điện não đồ, hay điều khiển hệ thần kinh tự động (như là làm chậm nhịp tim hay thay đổi nhiệt độ cơ thể).
Với sự liên hệ với Tứ Diệu Đế, Chúng ta ghi nhận lời dạy của Đức Phật: Như Lai chỉ thuyết giảng về một điều: Khổ và Chấm dứt đau khổ.” Như vậy nếu ai đó thực sự tiến bộ, chúng ta có thể thấy rằng trước đây người đó buồn bã và ưu não, thì nay ít bị như vậy; trước đây ích kỷ, nay người ta cho đi nhiều hơn; trước đây thường thủ thế, bí hiểm, và tự vệ, người đó nay cởi mở hơn, tự tin hơn. Trạng thái lo lắng và kích động cũng giảm thiểu; khiêm tốn và khách quan nên thay thế cho tự kiêu. Thay vì ôm ấp tư tưởng hận thù và trả đũa, người đó nên khoan dung, tha thứ và bình thản với mọi điều quanh mình. Điều đáng quan tâm là những thành quả như vậy đã được xác nhận như là kết quả hướng tới một cách đúng đắn trong thực hành (Thiền Phật Giáo).
Lại nữa, với sự liên hệ đến Tứ Diệu Đế, sự tham đắm hay dục vọng chính là nguyên nhân của những bất toại và sản sinh ra mọi phiền não trong chúng ta. Như vậy chỉ bằng sự tấn công vào những vấn đề của tham đắm, ham muốn, và dục vọng thì sự tiến bộ mới có thể đạt được. Tôi nói đây không đả động nhiều đến những ham muốn thô thiển và rõ ràng như đói khát và tình dục nhưng đến những thứ tinh tế hơn như ngã chấp và sự lệ thuộc trong tình cảm, và những ham muốn chiếm hữu. Người ta có thể nhịn ăn hai tuần mà không bao giờ thấy ra sự thật rằng nguyên ngân chính của việc tuyệt thực chỉ là nuôi béo bản ngã - trở nên khá hơn, có kỷ luật hơn, sùng tín hơn những người bạn đạo khác. Hoặc giả người ta cũng có thể làm việc một cách tinh cần để chiếm được tình thương, niềm tin và sự chú ý của một vị thầy thẳng thắn và xa cách, và người đó không bao giờ nhận ra rằng mình đang nỗ lực để khoả lấp những thất vọng và thiếu thốn tình cảm từ (thuở còn lệ thuộc vào) những bậc cha mẹ khô khan và lạnh lùng. Để thực sự phá vỡ những cảm giác chán chường (hang ups) kiểu đó, hành giả phải tập trung chú ý, không phải là trên cảm thọ của hơi thở vào ra lỗ mũi, mà hãy chú tâm trên cảm giác đau đớn của sự bất toàn, hoặc khác đi thì bị khống chế một cách tồi tệ bởi quá yêu thân mình (narcissism).
Trong một cách khác thiền bị hướng sai, như là kết quả của ngay chính những động cơ quyết định nó, là sự tìm kiếm những cảm giác hay kinh nghiệm mới; nghĩa là tham lam! Rất nhiều người tìm trong thiền chính những thứ mà họ tìm kiếm trong á phiện - nghĩa là một cảm giác lưng lưng ngập tràn khoái cảm của sự biến vào tự ngã, với những nhận thức, màu sắc, tình cảm, và ‘vượt qua những trạng thái mà từ ngữ có thể diễn tả’.
Đây không hàm ý làm giảm giá trị của những kinh nghiệm như vậy và nói rằng chúng không có gì đáng chú ý hay không có giá trị gì. Nhưng cũng giống như chích một loại ma tuý mạnh (LSD) hay đang xem một cuộn phim hay, chúng nhanh chóng tan biến và chỉ còn là những kỷ niệm. Và một lần nó đã qua, ngay trong chớp mắt những tật cũ trở lại, những ganh tị nhỏ nhen, những ngã mạn, và những bực dọc cáu kỉnh vẫn mạnh mẽ và thường xuyên như bao giờ. Nếu như đã không có một nhân cách thay đổi lâu dài và thực sự, thì Thiền Phật Giáo đã bị xem như thất bại trong chủ ý mục đích của nó.
Ở một cực đoan ngược lại là những người mà cách tiếp cận Đạo Phật lại quá ư giáo điều, chiết tự, chính thống và đạo đức chủ nghĩa. Họ mạnh mẽ chống lại cách tiếp cận có tính thực dụng và không chấp nê trong việc thực hành, và họ quá chú trọng đến những điểm tế nhị trong truyền thống chuẩn mực của Phật Giáo. Từ những nguồn này người ta có thể nghe lặp đi lặp lại những nhận xét như: “Để có sự tiến bộ trong hành Thiền thì phải có kỷ luật đạo đức nghiêm ngặt”, hoặc: “bạn không thể mong đợi những kết quả nhanh chóng, phải tiến hành hàng năm cơ”. Thực ra thì (ít nhiều) những nhận định kiểu đó đều đúng. Nhưng trong bôí cảnh này chúng thực sự là những triệu chứng của sự quá khích trong cứng rắn và giáo điều, điều mà trong bản chất không khác gì chủ nghĩa giáo điều của những nhà truyền giáo Thiên chúa, hay những người trung thành tận tuỵ với một thể chế định sẵn. Sự tận tâm của hành giả vào truyền thống, vào văn tự mà quá mạnh nó sẽ khiến hành giả không thể thực sự thực hành ngay chính những lời dạy (của Đức Phật) rằng không nên chấp thủ định kiến, và rằng hãy thấy chân lí như là phổ quát và độc lập với bất cứ một thể chế nào. Tôi cảm thấy rằng hiện tượng không may này là nguyên nhân của nhiều hành giả tiêu biểu trong việc rất tận tuỵ, nỗ lực mặc dù trải qua nhiều năm thực hành chuyên cần, lại chỉ chút ít hơn nét phảng phất u hoài kinh niên xen lẫn với sự quyết tâm nặng nề.
Khúc dạo đầu của cảm giác tội lỗi và sự tự trừng phạt là một yếu tố (mặc dù không chỉ là một) khiến trệch hướng tới việc kiên trì một kiểu tinh tấn cố công mà kết quả lại giảm thiểu. Nó thường bắt đầu với hành giả quá lí tưởng, quá đạo đức, và đôi khi là cách tiếp cận pháp quá ư sùng tín. Hành giả cố gắng để nhất tâm và hoàn toàn đè nén những phiền não trong tâm. Thất bại và cố gắng lần nữa; lại thất bại và lại cố gắng; tự trách cứ mình về những thất bại, hành giả đi đến chỗ cảm thấy tội lỗi, và lại nỗ lực hơn nữa để chỉ thất bại tiếp. Từ sự khổ hạnh này hành giả đi đến một tính cách tự trừng phạt mình. Giận giữ với chính mình, hành giả trở nên hà khắc hơn với hành giả.
Đối với những ai biết soi chiếu vào vấn đề tiến thoái lưỡng nan của họ, còn có thể thêm vào đó vấn đề của cảm giác tội lỗi về cảm giác tội lỗi, hoặc trở nên bực dọc về sự bực dọc của mình. Nhưng biết soi chiếu cũng chính là bước đầu tiên đi đến một giải pháp. Bước thứ hai là lùi lại và xả hơi một chút. Như Đức Phật đã nói nếu dây đàn có lúc quá chùng nay lại quá căng, để có được sự hài hoà sự căng thẳng phải được buông xả. Với những người lý tưởng và đạo đức, sự buông xả và nghỉ ngơi lại chính là những gì làm tăng thêm cảm giác tội lỗi. Vâng, nhưng trong nguyên tắc xử thế đây cũng chính là những gì Đức Phật đã làm khi ngài từ bỏ lối tu khổ hạnh và thực hành pháp trung đạo. Hành giả phải lùi lại và đánh giá lại những hậu quả của quyết định của mình.
Trong vấn đề đo lường sự tiến bộ trong Thiền tập, điều quan trọng là biết cách phân biệt giữa sự chứng đạt thực sự có tính Phật Giáo và sự thích ứng. Bất cứ một chúng sanh nào (hay cho mọi sinh vật sống) khi được đặt vào một hoàn cảnh mới, đi qua tiến trình của thích nghi, thích ứng và phát triển để quen thuộc. Điều này cũng đúng đối với đời sống con ngươì nói chung, và đúng cho người xuất gia hành đạo. Thời gian trôi đi, anh ta phát triển và chấp nhận vai trò của mình, trở nên thich nghi và học cách tự điều chỉnh; anh ta cũng có thể trở nên bằng lòng và vui vẻ chấp nhận chỉ vì thời gian và tuổi tác mà thôi.
Tiến trình thích ứng đặc biệt liên hệ trong trường hợp một khoá Thiền tích cực nơi mà hành giả phải trải qua hàng tuần hay hàng tháng quanh quẩn trong một căn phòng nhỏ, chỉ rời phòng trong khoảnh khắc để gặp Thiền sư và trình Thiền. Trong bối cảnh đó hành giả có thể cảm thấy cực kỳ an lạc và hạnh phúc, tâm tư bỗng trở nên thanh tịnh và tỉnh giác như chưa bao giờ có được trước đó, Thiền sinh có thể nghĩ rằng nay chính là trạng thái siêu thế. (Tuy nhiên, cũng có những khoảnh khắc của buồn phiền, lo lắng vô cớ, khóc chút đỉnh…tuỳ thuộc trên mỗi người.) Rất nhiều những hành giả sau khi kết thúc những khoá Thiền như vậy cảm thấy rất ấn tượng và đánh giá cao phương pháp này. Tuy nhiên, có vẻ như tất cả những kinh nghiệm chủ quan này lại biến mất nhanh chóng khi Thiền sinh không còn sống biệt lập nữa, và sau đó, thật giống như trạng thái ‘mơ màng với nàng tiên nâu’, chúng chỉ còn là những hồi ức đẹp đẽ. Hơn nữa, rất nhiều Thiền sinh sau khi”hoàn tất những khoá Thiền tích cực” lại trở về với những ích kỷ và những tánh xấu chung của con người chẳng khác gì bất cứ phàm phu tục tử nào! Tệ hơn nữa, còn có những chướng ngại nguy hiểm trong những kẻ (tự cho rằng) “đã tốt nghiệp” này là những biểu hiện cực kỳ ngã mạn khi đề cập đến những chứng đạt của họ.
Nhưng cũng đừng vì thế mà cho rằng không có lợi ích gì trong những khoá Thiền tích cực. Ngược lại, tôi vẫn thường khuyên người ta hãy tìm sự hướng dẫn hành Thiền đúng theo khả năng. Tuy nhiên, đối với rất nhiều người, nếu không muốn nói là hầu hết mọi người chỉ có phương pháp này không thôi thì không đủ. Và thật sự thì Bát Thánh Đạo và kinh điển Phật Giáo cũng ủng hộ điều này. Vậy nên chăng hãy giải quyết những vấn đề tục luỵ của cá nhân mình như khả năng sống chung với người khác và những vướng mắc tình cảm trước khi thử sức những pháp hành đặc biệt hơn.(Người Việt mình có câu: Thứ nhất là tu tại gia, thứ hai tu chợ, thứ ba tu chùa - ND).
Thường thì một tu viện bảo vệ người ta khỏi mọi hình thức của những phỉ báng, làm nhục, kích động và lo lắng có thể khiến sanh ra ảo tưởng của chứng đạt và tạm lắng với cảm giác tự thoả mãn. Chúng ta có thể đối diện và triệt tiêu những phiền não, chỉ khi chúng đang hiện khởi sống động trong tâm chúng ta. Chúng ta không thể làm điều này khi chúng chỉ là những hồi ức mờ nhạt hay chỉ là thuần kiến thức sách vở. Rốt cuộc nhiều hành giả nhận thấy rằng sự tiến bộ thực sự của họ chính là từ những tình huống thực tế của cuộc sống trong mối tương quan xã hội và thất vọng. Mặt khác, những va chạm thái quá trong các mối quan hệ tương tác và va vấp như vậy cũng có thể ngoài khả năng tự chủ và chánh niệm, và rồi một cách âm thầm trở nên vướng bận vào những cãi cọ và trói buộc khiến sinh ra giận ghét và đau buồn. Khi sống đời sống tu viện nơi không có vấn đề gì sinh khởi, những phản ứng thủ thế và tính tình không hay có thể ngủ ngầm và như vậy hiện diện rong bóng tối. Nhưng trong đời sống bình thường của người cư sĩ, những cám dỗ, những cảm thọ, và những vấn đề sanh khởi quá nhanh đến nỗi hầu như lịch trình hàng ngày chỉ là mẫu lập đi lập lại của nhận biết, phản ứng, giải quuyết; nhận biết, phản ứng, giải quyết…cứ như vậy.
Như vậy đối với rất nhiều hành giả giải pháp nằm trong con đường trung đạo giữa hai cực đoan: đó là một vị thế mà hành giả vẫn tiếp xúc một số công việc tương đối, những bực dọc và các mối tương tác có tính xã hội, nhưng nó được xen kẽ với những khoảng lặng lẽ và Thiền định. Những khoảng giữa này có thể kéo dài hàng giờ hay hàng tuần tuỳ thuộc trên sự cần thiết của mỗi cá nhân hay tuỳ vào hoàn cảnh thực tế. Như vậy bằng sự duy trì một số tối ưu của sự liên quan với xã hội và các kích thích giác quan, người này đi xa hơn là chỉ nhận biết, phản ứng, giải quyết. Với chánh niệm, hành giả có thể bắt được tri giác và phản ứng khi nó đang sanh khởi. Anh ta quan sát, chiêm nghiệm và đánh giá nó. Trong khi làm như vậy, nó có thể được hạn chế, buông bỏ hay phát triển khi thấy cần thiết. Hành giả hành động với chánh niệm thay vì chỉ bằng thói quen hay phản xạ, và như vậy những phản ứng mới và những giải pháp có thể được học. Nếu (như một số nhà tâm lí học đã tuyên bố) nhân cách của mỗi người là tổng số của tri giác, nhận biết và phản ứng, trong trường hợp này sự tăng trưởng và phát triển của nhân cách là điều có thể.
Phần thời gian tối ưu mà hành giả nên giành cho Thiền tập trong sự tương xứng với khoảng thời gian cho những công tác khác cũng có sự sai khác tuỳ thuộc vào mỗi cá nhân. Nó cũng sai khác tuỳ thuộc vào thời gian và giai đoạn cả sự phát triển đối với từng hành giả.
Tôi khẳng định những kết luận trên không chỉ từ góc độ lý thuyết, và cũng không phải chúng có vẻ như được tiết lộ từ khuôn mẫu của cuộc đời Đức Phật và các đệ tử lớn của ngài như được miêu tả trong kinh điển. Những sự quan sát giới hạn của tôi về những cá nhân có biểu hiện sự tiến bộ trong thực hành Thiền Phật Giáo cũng đúng cho kết luận này.
…Tôi cảm thấy có một điểm cần được nhấn mạnh, đó là sự thực hành có tính khoá biểu sẽ không cho kết quả trừ khi hành giả tự nguyện chiêm nghiệm một cách thấu suốt toàn bộ phong cách sống của mình và sẵn lòng làm lại hay từ bỏ phong cách sống đó nếu thấy cần phải. Cũng trong cách đó, những hành giả bước trên chánh đạo dù là tu sĩ hay cư sĩ có thể thực hành tốt mà không đặt giới thời gian và cũng không cố theo một lộ trình vạch sẵn cho tương lai. ( Như là: « Tôi sẽ học xong chương trình đại học’, hay ‘tôi sẽ trở lại quê hương để hoằng dương chánh pháp’). Với những người như vậy đã quyết định sẵn lộ trình sẽ là, và như vậy đã giới hạn những thay đổi mà anh ta sẽ cho phép mình làm.
…Tôi không hoàn toàn đồng ý với một số truyền thống phổ biến rằng định là không cần thiết trong Thiền Phật Giáo. Nhưng nếu hành giả chỉ chú tâm đặc biệt trên hơi thở, Thiền hành hay bất cứ đề mục nào khiến chận đứng mọi tư tưởng, tình cảm, điều này khiến hành giả chạy trốn khỏi những phiền não và những xung đột nội tâm nên được đối diện để giải quyết. Điều này dường như nói lên điểm nổi bật là trong Bát Chánh Đạo chánh định theo sau chánh niệm.
Người ta có thể gặp không ít những người đã (hoặc giả như đã từng tuyên bố) có những chứng đạt nào đó trong Thiền định. Vâng, chỉ với một số ít ngoại lệ, họ xuất hiện (trong mắt chúng ta) chỉ như những người có khuynh hướng ích kỷ và những ganh tị nhỏ mọn như bất cứ một kẻ tầm thường nào mà ta tình cờ gặp. Quả thật vài người trong số họ còn có những biểu hiện như bất an, cô đơn, và rất không hạnh phúc. Mặt khác, những người mới chỉ có một số ít tiến bộ trong Thiền tập, tuy nhiên, trên lộ trình của việc thực hành, lại cho thấy có những giảm thiểu của ngã mạn, bất mãn, trầm uất, và ích kỷ. (Tuy nhiên, có một người mà tôi được biết sau những tháng chuyên tâm Thiền quán, đã tỏ ra có những tiến bộ rất lớn trong việc giải trừ phiền não thuộc mọi loại, và nay cũng là người duy nhất mà tôi được biết có khả năng nhập định vào từng Thiền thứ ba bất cứ lúc nào.)
Những quan sát trên cũng đúng cho phương pháp đặt tên; nay là phương pháp rất phổ biến trong các khoá Thiền tích cực ở Burma. Với kỹ thuật này, những người hành Thiền khi nhận thấy mình đang ‘mơ ngày’ sẽ chỉ đơn giản (thầm tự nhắc mình) “tưởng tượng”, tưởng tượng”, hoặc “mơ màng”, “mơ màng” và rồi trở lại trên đề mục quán niệm của hơi thở hay cảm thọ. Tuy nhiên, trạng thái mơ màng hay vọng tưởng lại thường là những biểu hiện của những ước muốn , hay những xung đột tình cảm trong ta. Nếu hành giả kiểm điểm lại sự mơ tưởng trong tâm: “Nó muốn diễn đạt gì đây?”, “Nó lại đòi hỏi gì nữa đây?”, “Nó mang sắc thái tình cảm gì ?”; như vậy hành giả có được tuệ giác soi chiếu vào thế giới tình cảm và những đòi hỏi của nó, và đó cũng chính là lúc mà hành giả đối diện với những vết nhơ trong tâm hồn mà Thiền quán là để vượt qua chúng. Kỹ thuật đặt tên là, tuy nhiên, có tính ứng dụng rất cao trong việc đối kháng với những phân tâm do thân khổ thọ như ngứa, đau, ồn; và với một số loại tâm trạng như chán ngán, hay với một số ký ức ‘không mời mà đến’. Nhưng nó phải được sử dụng một cách thận trọng; vì nếu nó được sử dụng thái quá, nó có thể làm chậm lại sự tiến bộ.
Có một qui luật chung trong sự thực hành mà nhiều hành giả đã dùng để nhảy bực như say: hành giả bắt nay thực hành bằng cách làm tâm lắng dịu và định tâm. Nhưng say vài phút thấy tâm cứ tiếp tục lang thang ra khỏi đề mục Thiền, hành giả liền lùi lại và tự hỏi: “Tâm tôi đang ở trạng thái nào đây”? “Điều gì đã khiến nó rời khỏi đề mục Thiền?’ Đây chính là phân tích và đối diện. Về cơ bản điều này rất giống với một kỹ thuật hữu dụng khác đó là Thiền sinh không chọn một đề mục thiền cụ thể nào, thay vì chỉ ngồi đó đơn giản ghi nhận: điều gì đang hiện khởi trong tâm đây? Cảm thọ thô nào đây? Cảm thọ tế nào đây? Ký ức hay mộng tưởng nào đây? Ý định hay ham muốn gì đây?”Trong thực tế của hành thiền điều này không phải được làm như nói chuyện trong tâm, như nó có vẻ ở những câu trên, đúng hơn nó là một trạng thái tỉnh giác quán sát mà trong đó chỉ có ít ngôn ngữ tư tưởng xuất hiện. Thường thì vào những lúc như vậy hành giả thấy một loại phiền não vi tế mà nó phải được xác nhận và loại bỏ. Nó là tư tưởng: Bây giờ đây tôi đang hành thiền và muốn có vài trạng thái thiền. Tôi muốn điều gì đó xẩy ra”. Hoặc nó có thể là: “tôi muốn đối diện và chiến thắng sân hận trong tôi, nhưng bây giờ khi tôi tìm kiếm nó thì nó lại đi đâu mất tiêu!” Và điều này đưa đến cảm giác hụt hẫng. Ở đây hành giả đã đặt ra một mục tiêu nên mới bị phá ngang. Như vậy sự ước muốn dưới hình thức một mục đích đặc biệt và kết quả của nó là sự hụt hẫng chính là trạng thái tâm cần được giải quyết. Sự hành thiền tốt đẹp đòi hỏi phải tóm bắt được những gì đang hiện khởi.
Cuối cùng một điều đáng nhớ trong chứng đạt của thiền tập: trừ khi hành giả rất lão luyện, đừng trông mong hay ước ao những kinh nghiệm mới hay khác thường hơn là những gì được thấy trong đời sống bình thường . Ngược lại, chứng đạt lại là những thứ có tính phủ định và chúng được thấy trong sự nhìn lại. Cho ví dụ, hành giả bỗng nghiệm thấy: “một năm trước mình thường bị chứng trầm uất mãn tính, phiền muộn, bực bội và thủ thế. Bây giờ hiếm khi như vậy. Những thứ như vậy như vậy thường làm mình bực dọc điên đầu, Nay nó xẩy ra mà mình hầu như không để ý tới.”
Nó có thể là một sự khẳng định hơi mạnh mẽ rằng trong hành Thiền hành giả không tìm kiếm để đạt được gì cả. Vì rằng có sự tăng trưởng của hạnh phúc và bình an trong tâm hồn. Nhưng khi được hỏi: “bạn đạt được điều gì khi hành thiền?” câu trả lời có thể là: “không phải những gì tôi đạt được là quan trọng, mà chính là những gì tôi đã giảm thiểu, chúng là tham, sân, si.”
Index of “Buddhist Meditation and Depth Psychology”
By Doughlas M. Burns.
Người dịch, Nguyên Hương – Dhammananda Bhikkhuni
Ayyakhema Centre June 1st, 2005.
Blog có nội dung Phật học và các Phương Pháp Thiền trong Đạo Phật. Meditation and Buddhist Way of life
Thứ Năm, 22 tháng 7, 2010
Vẻ Đẹp của Cuộc sống dưới ánh sáng TỨ DIỆU ĐẾ
Thật kỳ lạ, có nhiều người sống gần những di sản văn hóa thế giới nhưng không ý thức được vẻ đẹp kỳ diệu của những công trình nghệ thuật đó. Điều này có thể là do những gì quá gần gũi, quá dễ dàng bên cạnh chúng ta nên vẻ thần kỳ không được cảm nhận hay đánh giá đúng mức, thậm chí rất dễ bị coi thường. Điều này cũng đúng với những người sinh ra trong văn hoá hay truyền thống Phật giáo, chúng ta gọi đó là “Đạo của ông bà” mà không tìm hiểu xem triết lý sống nào ẩn tàng sau những tập tục đó.
Có những chân giá trị mà chúng ta bỏ qua, hiểu và sống một cách hời hợt và không thấy được giá trị thiết thực của một khoa học sống, hay một nghệ thuật đi vào những bí mật của đời sống. Là Phật tử, chúng ta cần trở lại với những gì vừa kỳ diệu, vừa gần gũi trong đời sống hàng ngày. Những ngôi sao lấp lánh trên bầu trời thật đẹp, nhưng khi ánh sáng của chúng đến thế giới của chúng ta thì nhiều trong số đó đã hủy diệt rồi, nếu chúng ta mơ màng nhìn ngắm và gửi những ước mơ xa xôi mà không để ý đến con đường gập ghềnh mà ta đang đi thì có thể sẽ vấp ngã trầy xước chân mình. Trở về với những gì quanh mình nhưng không đánh mất hay quên lãng trong những tầm thường vụn vặt của đời sống là một bí quyết sống mà Phật giáo đề ra. Và đây cũng chính là giá trị làm cho Đạo Phật vẫn có sức hấp dẫn dù bí quyết này đã được giải bày hơn 2500 năm trước.
Khắp nơi trên thế giới người ta đã nghe về Đạo Phật. Bạn cũng đã nghe về từ Bụt (Buddha) hay Phật rồi, hay có lẽ bạn cũng đã từng thăm viếng chùa chiền hay gặp gỡ những người tự nhận là Phật tử - nhưng bạn có thật sự biết Đạo Phật là gì không?
Đạo Phật được dạy như một cách sống để có bình an và hạnh phúc cho tất cả mọi người và mọi loài, dùng chìa khoá “chánh kiến” mở ra một cách nhìn mới, một khám phá sâu sắc về bản chất của đời sống trong ta và quanh ta. Với những khám phá này, chúng ta tìm ra những nguyên lý chi phối sự vận hành của cuộc đời và thế giới, từ những nhận thức đúng đắn về đời sống, chúng ta biết cách sống thuận theo những qui luật tự nhiên và qui luật tâm lý dẫn đến một sự phát triển hài hòa trong các mối liên hệ và duy trì một đời sống thăng bằng giữa những đổi thay của cuộc sống.
Đạo Phật cũng có thể được hiểu như một tôn giáo hay những gì cần phải tin tưởng hành trì như tôn chỉ của đời sống dựa trên những lời dạy của Đức Phật – một người đã giác ngộ thấy rằng đời sống là vô thường, hay nói một cách khác bản chất của thế giới là không ngừng thay đổi. Mọi thứ trên thế gian này đều đổi thay dẫn đến khổ hay bất toại nguyện trong đời sống, nhưng vô thường cũng cho ta những niềm vui tạm bợ chóng tàn. Nếu không hiểu điều này người ta sẽ tự làm khổ mình vì bám níu vào những gì đã qua. Thấy vô thường người ta tự điều chỉnh quan niệm sống, thay đổi cách ứng xử và những mong cầu trong đời để không bị chơi vơi và tuyệt vọng giữa những đổi thay bất như ý. Sống một cách có trí tuệ cho người ta tự do, an lạc và bình an của Niết Bàn, nơi mọi tham cầu đã được dập tắt.
Cuộc đời của Đức Phật và giáo pháp của ngài là một nguồn cảm hứng cho những ai thực hành giáo lý tự lực, trách nhiệm đạo đức, lòng khoan dung, từ bi và trí tuệ của Đạo Phật. Những phẩm chất tốt đẹp đó làm cho những người hiểu và thực hành lời Phật dạy sống một đời sống sâu sắc, hạnh phúc và có ý nghĩa hơn. Sự hiểu biết về những qui luật chi phối đời sống giúp chúng ta sống hài hòa với sự đổi thay của vạn vật trong vũ trụ, nó cũng cho phép chúng ta sống trọn vẹn với những gì đang là để không tiếc nuối khi chúng qua đi.
Đôi khi Đạo Phật bị xem như một triết lý bi quan yếm thế về cuộc đời. Điều này có thể bởi vì Đạo Phật nói nhiều về khổ và nguyên nhân của khổ. Tuy nhiên, đây chỉ là một nửa của vấn đề. Trong việc nhấn mạnh vào khía cạnh của khổ đau và bất toại nguyện trong đời sống cùng với nguyên nhân của chúng, Đạo Phật quả thật đã tận tâm vào việc nhận ra và phát triển hạnh phúc thực sự. Tuy nhiên quan niệm về hạnh phúc nhiều khi khác xa nhau trong mỗi người và mỗi thời đại. Có rất nhiều loại hạnh phúc được nói đến trong Đạo Phật. Hạnh phúc của sự biết đủ, của sự vui hưởng tự do, của sự thoát nợ và của lòng tốt. Tuy nhiên, Đạo Phật cũng không lạc quan hứa hẹn một viễn cảnh thiên đường mãi mãi ở đâu đó.
Mục đích chính yếu của Đạo Phật là giúp những ai học nó có một tầm nhìn rõ ràng để họ có thể thấy sự vật như chúng đang là. Với sự soi chiếu vào bản chất thật sự của sự vật và đời sống, triết lý Phật giáo cho người ta thấy rằng thật vô ích khi tìm cách thay đổi thế giới (và quả thật không cần thiết phải làm như vậy) nhưng mỗi người đều được tự quyền thay đổi chính mình, thay đổi thái độ trước cuộc sống, và như vậy góp phần vào sự phát triển chung của thế giới để đạt đến tuệ giác và chân hạnh phúc.
Như một con đường sống, Đạo Phật nhắm đến việc giáo dục con người để họ trở nên chín chắn và hiểu biết hơn về chính họ và thế giới quanh họ. Nhiều công trình nghiên cứu Phật giáo nhấn mạnh trên phương diện nhập thế và làm thế nào để sống tốt mỗi ngày. Có rất nhiều pháp thoại đề cập đến hay hướng dẫn tín đồ sống một đời sống có tinh thần trách nhiệm, tôn trọng lẫn nhau, và làm cách nào để đối diện với những vấn đề phát sinh trong cuộc sống của mỗi người. Đạo Phật, đặc biệt là “sống thiền”, dạy một phương pháp phát triển tâm thức con người để họ có thể sống trong thực tại, buông xả và an nhiên tự tại trước những thăng trầm của đời sống. Sống thiền hay sống tỉnh giác cũng giúp chúng ta cải thiện các mối quan hệ gia đình, bạn bè và xã hội một cách tốt đẹp hơn.
Mặc dù Phật giáo đã có mặt trên thế gian này hơn 2500 năm, nhưng ngày nay những lời dạy của Phật vẫn còn đầy ý nghĩa và thiết thực trong đời sống hiện đại. Đạo Phật vẫn đang phát triển khắp nơi trên thế giới, đây không phải là một truyền thống của quá khứ, mà là một phần đang phát triển của các xu hướng hiện đại. Những bài viết trong cuốn sách nhỏ này (của một Ni sinh và cũng là một Hành giả) cho chúng ta một cách nhìn mới về Đạo Phật và về cuộc sống quanh ta, cũ nhưng không sáo mòn, vì chân lý thì phi thời gian.
Hà nội mùa Phật Đản 2552 – 05. 2008
Có những chân giá trị mà chúng ta bỏ qua, hiểu và sống một cách hời hợt và không thấy được giá trị thiết thực của một khoa học sống, hay một nghệ thuật đi vào những bí mật của đời sống. Là Phật tử, chúng ta cần trở lại với những gì vừa kỳ diệu, vừa gần gũi trong đời sống hàng ngày. Những ngôi sao lấp lánh trên bầu trời thật đẹp, nhưng khi ánh sáng của chúng đến thế giới của chúng ta thì nhiều trong số đó đã hủy diệt rồi, nếu chúng ta mơ màng nhìn ngắm và gửi những ước mơ xa xôi mà không để ý đến con đường gập ghềnh mà ta đang đi thì có thể sẽ vấp ngã trầy xước chân mình. Trở về với những gì quanh mình nhưng không đánh mất hay quên lãng trong những tầm thường vụn vặt của đời sống là một bí quyết sống mà Phật giáo đề ra. Và đây cũng chính là giá trị làm cho Đạo Phật vẫn có sức hấp dẫn dù bí quyết này đã được giải bày hơn 2500 năm trước.
Khắp nơi trên thế giới người ta đã nghe về Đạo Phật. Bạn cũng đã nghe về từ Bụt (Buddha) hay Phật rồi, hay có lẽ bạn cũng đã từng thăm viếng chùa chiền hay gặp gỡ những người tự nhận là Phật tử - nhưng bạn có thật sự biết Đạo Phật là gì không?
Đạo Phật được dạy như một cách sống để có bình an và hạnh phúc cho tất cả mọi người và mọi loài, dùng chìa khoá “chánh kiến” mở ra một cách nhìn mới, một khám phá sâu sắc về bản chất của đời sống trong ta và quanh ta. Với những khám phá này, chúng ta tìm ra những nguyên lý chi phối sự vận hành của cuộc đời và thế giới, từ những nhận thức đúng đắn về đời sống, chúng ta biết cách sống thuận theo những qui luật tự nhiên và qui luật tâm lý dẫn đến một sự phát triển hài hòa trong các mối liên hệ và duy trì một đời sống thăng bằng giữa những đổi thay của cuộc sống.
Đạo Phật cũng có thể được hiểu như một tôn giáo hay những gì cần phải tin tưởng hành trì như tôn chỉ của đời sống dựa trên những lời dạy của Đức Phật – một người đã giác ngộ thấy rằng đời sống là vô thường, hay nói một cách khác bản chất của thế giới là không ngừng thay đổi. Mọi thứ trên thế gian này đều đổi thay dẫn đến khổ hay bất toại nguyện trong đời sống, nhưng vô thường cũng cho ta những niềm vui tạm bợ chóng tàn. Nếu không hiểu điều này người ta sẽ tự làm khổ mình vì bám níu vào những gì đã qua. Thấy vô thường người ta tự điều chỉnh quan niệm sống, thay đổi cách ứng xử và những mong cầu trong đời để không bị chơi vơi và tuyệt vọng giữa những đổi thay bất như ý. Sống một cách có trí tuệ cho người ta tự do, an lạc và bình an của Niết Bàn, nơi mọi tham cầu đã được dập tắt.
Cuộc đời của Đức Phật và giáo pháp của ngài là một nguồn cảm hứng cho những ai thực hành giáo lý tự lực, trách nhiệm đạo đức, lòng khoan dung, từ bi và trí tuệ của Đạo Phật. Những phẩm chất tốt đẹp đó làm cho những người hiểu và thực hành lời Phật dạy sống một đời sống sâu sắc, hạnh phúc và có ý nghĩa hơn. Sự hiểu biết về những qui luật chi phối đời sống giúp chúng ta sống hài hòa với sự đổi thay của vạn vật trong vũ trụ, nó cũng cho phép chúng ta sống trọn vẹn với những gì đang là để không tiếc nuối khi chúng qua đi.
Đôi khi Đạo Phật bị xem như một triết lý bi quan yếm thế về cuộc đời. Điều này có thể bởi vì Đạo Phật nói nhiều về khổ và nguyên nhân của khổ. Tuy nhiên, đây chỉ là một nửa của vấn đề. Trong việc nhấn mạnh vào khía cạnh của khổ đau và bất toại nguyện trong đời sống cùng với nguyên nhân của chúng, Đạo Phật quả thật đã tận tâm vào việc nhận ra và phát triển hạnh phúc thực sự. Tuy nhiên quan niệm về hạnh phúc nhiều khi khác xa nhau trong mỗi người và mỗi thời đại. Có rất nhiều loại hạnh phúc được nói đến trong Đạo Phật. Hạnh phúc của sự biết đủ, của sự vui hưởng tự do, của sự thoát nợ và của lòng tốt. Tuy nhiên, Đạo Phật cũng không lạc quan hứa hẹn một viễn cảnh thiên đường mãi mãi ở đâu đó.
Mục đích chính yếu của Đạo Phật là giúp những ai học nó có một tầm nhìn rõ ràng để họ có thể thấy sự vật như chúng đang là. Với sự soi chiếu vào bản chất thật sự của sự vật và đời sống, triết lý Phật giáo cho người ta thấy rằng thật vô ích khi tìm cách thay đổi thế giới (và quả thật không cần thiết phải làm như vậy) nhưng mỗi người đều được tự quyền thay đổi chính mình, thay đổi thái độ trước cuộc sống, và như vậy góp phần vào sự phát triển chung của thế giới để đạt đến tuệ giác và chân hạnh phúc.
Như một con đường sống, Đạo Phật nhắm đến việc giáo dục con người để họ trở nên chín chắn và hiểu biết hơn về chính họ và thế giới quanh họ. Nhiều công trình nghiên cứu Phật giáo nhấn mạnh trên phương diện nhập thế và làm thế nào để sống tốt mỗi ngày. Có rất nhiều pháp thoại đề cập đến hay hướng dẫn tín đồ sống một đời sống có tinh thần trách nhiệm, tôn trọng lẫn nhau, và làm cách nào để đối diện với những vấn đề phát sinh trong cuộc sống của mỗi người. Đạo Phật, đặc biệt là “sống thiền”, dạy một phương pháp phát triển tâm thức con người để họ có thể sống trong thực tại, buông xả và an nhiên tự tại trước những thăng trầm của đời sống. Sống thiền hay sống tỉnh giác cũng giúp chúng ta cải thiện các mối quan hệ gia đình, bạn bè và xã hội một cách tốt đẹp hơn.
Mặc dù Phật giáo đã có mặt trên thế gian này hơn 2500 năm, nhưng ngày nay những lời dạy của Phật vẫn còn đầy ý nghĩa và thiết thực trong đời sống hiện đại. Đạo Phật vẫn đang phát triển khắp nơi trên thế giới, đây không phải là một truyền thống của quá khứ, mà là một phần đang phát triển của các xu hướng hiện đại. Những bài viết trong cuốn sách nhỏ này (của một Ni sinh và cũng là một Hành giả) cho chúng ta một cách nhìn mới về Đạo Phật và về cuộc sống quanh ta, cũ nhưng không sáo mòn, vì chân lý thì phi thời gian.
Hà nội mùa Phật Đản 2552 – 05. 2008
Giáo dục trong Gia Đình
Nhiều bậc cha mẹ có quan niệm sai lầm rằng con cái là sở hữu của họ, và họ là những người có toàn quyền quyết định vê số phận con cái mình trong thời gian chúng lệ thuộc vào cha mẹ. Trên một phương diện nào đó quan niệm, lối suy nghĩ và cách cư xử này đúng một phần, con cái là sản phẩm của cha mẹ. Về mặt vật chất, con cái thừa hưởng ở cha mẹ gen di truyền như là dòng dõi huyết thống. Cơ thể của con cái là được sanh ra từ cha mẹ; chín tháng mười ngày trong bụng mẹ cũng có những ảnh hưởng rất quyết định về mặt thể chất cũng như tinh thần của thai nhi. Nếu người mẹ không được ăn uống đầy đủ, khi đau ốm bệnh hoạn không được săn sóc thuốc men đúng lúc thì đứa bé sinh ra sẽ bị suy dinh dưỡng bẩm sinh và suốt cuộc đời nó sẽ phải chịu đựng những khổ sở do một cơ thể yếu đuối mang lại.
Nếu đời sống tinh thần của người mẹ thường bị khủng bố và bức bách, lo âu phiền muộn thì đứa trẻ sinh ra cũng yếu đuối, kém tự tin hay tinh thần bất định. Suốt quãng đời ấu thơ khi đứa trẻ sống gần như hoàn toàn tuỳ thuộc vào cha mẹ cũng là thời kỳ rất quan trọng trong sự hình thành và phát triển thể chất cũng như nhân cách của đứa trẻ. Nếu hiểu được tầm quan trọng này, các bậc làm cha làm mẹ sẽ phải có trách nhiệm hơn về sản phẩm mà họ đã sáng tạo, đó là con cái họ.
Có những bậc làm cha làm mẹ vì ít được học hỏi và thiếu kinh nghiệm nên rất bất cẩn. Họ thường chỉ phản ứng theo bản năng, nghĩa là chỉ tuân theo tiếng gọi của tự nhiên mà không suy nghĩ hay có sự chuẩn bị nào. Khi đứa trẻ được sinh ra thì cha mẹ chúng chỉ cố lo cho con đủ ăn, đủ mặc (với ý nghĩ rằng như vậy cũng đã tốt lắm rồi!), gửi chúng đến trường rồi phó mặc toàn bộ việc giáo dục cho nhà trường. Đây là một sai lầm rất căn bản vì thời gian ở trường của bé thường ít hơn thời gian ở nhà. Nếu các bậc cha mẹ biết rằng mọi lời ăn tiếng nói, cử chỉ và cách cư xử của mình đều để lại những ấn tượng đầu tiên và sâu đậm nhất trong cuộc đời con họ thì có lẽ họ đã không dám bất cẩn đến như vậy.
Đức Phật nói cha mẹ là những thầy cô đầu tiên của trẻ. Họ dạy con những tiếng bập bẹ đầu tiên, những bước đi đầu tiên; cũng chính trong giai đoạn này họ cho con những ý niệm sơ khởi về những mối quan hệ của trẻ với những thành viên khác trong gia đình: ai là cha, ai là mẹ, rồi ông bà, nội, ngoại, anh chị, cô dì, thím bác,…Những ý niệm sơ khởi này của bé về các mối quan hệ của bé với các thành viên khác trong gia đình đi kèm với ngôn ngữ và cử chỉ mà bé nên biểu hiện với từng người; những gì thì đươc khuyến khích và những gì thì bị ngăn chặn, đây là những ý niệm đầu tiên của trẻ về cách cư xử. Trẻ cũng được dạy rằng ông bà cha mẹ luôn yêu thương và bảo vệ bé, rằng bé ngoan ngoãn và vâng lời.
Nhưng đứa bé cũng có một thế giới riêng của nó, những đòi hỏi leo thang mà chúng ta gọi là thói hư tật xấu do được cưng chiều quá đáng hay bị bỏ bê quá. Nếu các bậc làm cha làm mẹ không hiểu được thế giới riêng của bé, chỉ đòi hỏi bé phải tuân theo những mực thước mà họ đặt ra thì chỉ làm cho bé hoặc là mất đi sự tự tin, trở nên yếu đuối, thụ động và lệ thuộc, hoặc trẻ sẽ có những biểu hiện giận dữ chống đối dưới nhiều hình thức khác nhau. Cả hai hướng phản ứng này đều có thể dẫn đến sự phát triển không lành mạnh cả về thể chất` lẫn tinh thần của bé. Nếu bé mất đi sự tự tin, trở nên thụ động và lệ thuộc thì kết quả học tập của bé thường thua kém, sa sút làm bé cảm thấy không hứng thú trong việc học cũng như đến trường. Nếu trẻ giận dữ chống đối thì trẻ dễ bỏ học đi hoang và nói dối, hay gây gỗ với bạn bè, chống đối với thầy cô giáo hay với người lớn nói chung.
Để tránh những biểu hiện tiêu cực này thứ nhất cha mẹ phải quan tâm hơn đến con cái của họ, phải có trách nhiệm với “những sản phẩm” của họ:
- Đừng bao giờ dạy con chửi thề, nói dối hay giễu cợt người khác;
- Đừng bao giờ chửi thề, nói dối hay giễu cợt người khác trước mặt trẻ;
- Đừng bao giờ tỏ thái độ bất kính hay coi thường cha mẹ mình (là ông bà của bé).
Tâm hồn trẻ thơ như tờ giấy trắng mà cha mẹ trẻ là những người viết những dòng đầu tiên lên đó. Đó là những dòng chữ nắn nót, trân trọng hay những vết bôi bẩn, nghệch ngoạc, đầy bất cẩn và lỗi chính tả làm hoen ố tờ giấy trắng là trách nhiệm của cha mẹ. Tâm hồn trẻ như một tấm gương trong sạch và phản ảnh những hành động, cử chỉ và lời ăn tiếng nói của cha mẹ và người lớn một cách tự nhiên. Nếu cha mẹ chửi thề, nói tục hay cãi lộn thì trẻ cũng học theo và chứng tỏ là mình không thua kém gì! Nếu cha mẹ giận dữ bạt tai hay phạt đòn trẻ vì những hành vi sai trái này thì trẻ cũng học cách biểu hiện sự bất đồng của mình bằng thái độ giận dữ và bạo lực đối với đồ chơi của bé, với đồ vật, với vật nuôi, hay với các trẻ khác ở trường.
Nếu trẻ được quan tâm săn sóc, được nghe những lời hiền hoà tử tế thì như một tiếng vang, trẻ cũng biểu hiện thái độ quan tâm giúp đỡ và dịu dàng tử tế với những người khác hay với đồ chơi của bé. Đôi khi môi trường xung quanh cũng có những ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của trẻ con. Nhiều khi cha mẹ trẻ không có những hành vi cử chỉ thiếu văn hoá và thiếu giáo dục nhưng những người hàng xóm xấu hay bất cẩn cũng có thể để lại những ấn tượng xấu trên trẻ con. Trẻ có thể học biểu hiện sự phẫn nộ, chửi tục và nói dối từ bên ngoài gia đình.
Từ những phân tích trên, nếu thấy trẻ có những biểu hiện tiêu cực như hay giận hờn, trả đũa, nói dối, nói tục, cứng đầu, ương ngạnh,.. thì việc đầu tiên các bậc cha mẹ nên nghiêm khắc nhìn lại cách cư xử của mình, do sự bất cẩn trong cách ăn nói, cư xử của họ mà bé học theo hay do ảnh hưởng xấu từ bên ngoài tác động lên trẻ?
Có một điều đáng quan tâm nữa là có những bậc cha mẹ lại quá sở hữu và ích kỷ hẹp hòi. Họ cho rằng họ là những người có toàn quyền duy nhất đối với con cái họ. Xu hướng tâm lý này dẫn đến việc là họ cấm đoán con cái mình không được tiếp xúc với những người xung quanh, bảo con rằng họ là người xấu, nói dối, kẻ trộm, vv. Điều này gieo vào lòng trẻ con sự sợ sệt, nghi kỵ không cần thiết. Những đứa trẻ con của những bậc cha mẹ như vậy thường cách biệt, lạnh nhạt hoặc sợ sệt nghi kỵ; ở những đứa trẻ này không có sự cởi mở hồn nhiên như những trẻ con khác. Đây cũng là một xu hướng phát triển tâm sinh lý thiếu lành mạnh khác.
Nhiều bậc cha mẹ mong đợi ở con cái quá nhiều. Họ mong con mình phải luôn thông minh, nhanh nhẩu và học giỏi; mong con mình phải luôn xuất sắc trong mọi lĩnh vực. Điều này thật tham lam! Có một sự thật mà ai cũng biết là không phải tất cả trẻ con được sinh ra đều thông minh, khoẻ mạnh và lanh lợi. Mặc dù các bậc cha mẹ có xu hướng lý tưởng thường làm hết cách để con họ có những điều kiện tốt nhất để học tập, vui chơi và sinh hoạt nhưng nhiều trẻ em đã không thoả mãn được những tham vọng của cha mẹ. Khi trẻ tỏ ra không được thông minh, lanh lợi như cha mẹ trẻ hằng mong muốn thì họ tỏ ra rất thất vọng và tìm cách này hay cách khác gây sức ép lên trẻ. Những đứa trẻ tội nghiệp này thường cảm thấy thiếu tự tin, không xứng đáng với sự quan tâm và mong mỏi của cha mẹ các em. Cảm giác bị đè nặng bởi sự mong đợi của cha mẹ làm em thiếu tự nhiên và càng kém tự tin hơn. Có những em đã đi đến chỗ lo lắng thái quá thành ra giao động và mệt mỏi thường xuyên, hoặc trở nên trầm cảm vì cảm giác không xứng đáng. Cả hai tình trạng này đều có thể dẫn đến thân bệnh và tâm bệnh nơi trẻ em. Đây là một mặt tiêu cực khác của việc giáo dưỡng con cái.
Chúng ta cần phải biết rằng ở một mức độ nào đó chúng ta không thể khiến mọi việc phải như ý mình, ngay cả với những người thông minh và khôn ngoan nhất đi nữa thì cũng có nhiều điều trong cuộc sống xảy ra bất như ý, ngay cả với con cái của chúng ta cũng vậy. Trong thời đại khoa học và kỹ thuật phát triển như hiện nay nhiều người có thể sinh con như ý muốn nhưng điều này không xảy ra cho tất cả mọi người. Khi trẻ không như ý ta, chúng ta phải nhìn nhận một sự thật là trẻ có những duyên nghiệp và một thế giới riêng với những điều kiện và hạn chế của nó. Chúng ta không thể áp đặt mọi quan kiến, giá trị và chuẩn mực của chúng ta cho trẻ, và rồi gò ép các em phải tuân theo một khuôn mẫu định sẵn của thế hệ chúng ta. Khi bị gò ép thái quá có thể dẫn đến hai loại phản ứng tiêu cực mà tôi đã nêu ra ở trên. Trong cả hai trường hợp đều dẫn đến sự mất mát nơi trẻ, đó là cơ hội được phát triển một cách tự nhiên lành mạnh, và nó ảnh hưởng xấu đến tính sáng tạo, tự tin nơi trẻ em.
Giáo dục trong gia đình cần nhất là tình thương yêu, sự quan tâm đúng mức, và cả sự hiểu biết và tế nhị nữa. Thứ nhất các bậc cha mẹ phải có tinh thần trách nhiệm với những ‘sản phẩm của họ’; thứ hai là tình thương yêu quan tâm và sự uốn nắn đúng mức và kịp thời. Trong Phật Giáo những phẩm chất này được gọi là Từ và Nghiêm. Từ là tình thương yêu vô bờ, vô điều kiện và vô giới hạn, luôn mong mỏi cho con trẻ được an toàn, hạnh phúc. Từ thường được nhận thấy trong tình mẹ, một sự gần gũi yêu thương và săn sóc vô điều kiện. Có những người mẹ sẵn sàng hy sinh cả mạng sống của mình cho con, suốt đời tận tuỵ nuôi con. Nghiêm là phẩm chất thường được nhận thấy nơi người cha, thương nhưng không thái quá, không nuông chiều những đòi hỏi thiếu lành mạnh của trẻ. Từ là tình cảm, nghiêm là lý trí biết đâu là giới hạn, những gì cần và không cần, nên và không nên. Chỉ có từ mà không nghiêm thì dễ làm cho trẻ hư, vòi vĩnh cả những điều không lành mạnh; trong một số trường hợp cũng có thể làm cho trẻ trở nên yếu đuối, thiếu ý chí tự lập và chỉ muốn dựa dẫm vào người khác. Nghiêm mà không từ thì xa cách khó gần, nhiều khi dẫn đến tình trạng khô khan, không dám biểu hiện tình cảm và sự quan tâm nơi trẻ. Có những người có tình cảm rất mãnh liệt nhưng không thể biểu hiện ra ngoài được và rất khổ sở phải nhờ đến sự giúp đỡ của tâm lý học trị liệu. Những người này thường có một tuổi thơ ít được quan tâm âu yếm, và chịu ảnh hưởng của tâm lý rằng bày tỏ và thể hiện tình cảm là sự yếu đuối hay khuyến khích sự yếu đuối. Kết quả là những đứa trẻ lớn lên theo cách giáo dục này, hay bị ảnh hưởng của những quan niệm rằng tình cảm là yếu đuối, không xứng đáng, tội lỗi, vv thì thường có vẻ lãnh cảm; mực thước qui củ nhưng khô khan cằn cỗi. không phải những người đó không có tình cảm, nhưng tình cảm của họ thường bị dồn nén, hay bị bóp méo thành khắc kỷ; một số người rất muốn được bộc lộ tình cảm nhưng lại cảm thấy mất tự nhiên, cực kỳ bối rối và vụng về khi phải thể hiện tình cảm.
Do đó, bên cạnh việc giáo dục tri thức, khoa học và kỹ thuật, thì sự giáo dục nhân cách và giáo dục tình cảm cũng là những mặt rất quan trọng. Để có được một đời sống hạnh phúc và lành mạnh con người cần tất cả những yếu tố như sức khoẻ, kiến thức, kỹ năng, nhân cách tốt đẹp và tình cảm thăng bằng. Trong bốn câu đầu tiên của bài Kinh Tâm Từ có liệt kê những phẩm chất cần thiết để người ta có thể sống an lạc, đó là: (1) có khả năng (thuộc về kiến thức và kỹ năng), (2) ngay thẳng và chân thật (thuộc về nhân cách), (3) nói lời hoà ái, (4) mềm mỏng và không kiêu mạn (3 và 4 thuộc về về đạo đức cư xử). Ngoài ra có sự hiểu biết đúng đắn về nhân duyên và vô ngã cũng là một điều kiện thiết yếu trong việc giáo dục nhân cách và tình cảm.
Như trên chúng ta đã phân tích, sự ảnh hưởng qua lại giữa cha mẹ và con cái là một sự ảnh hưởng vừa có tính nhân quả, vừa có tính hỗ tương. Chúng ta phải thấy được mối quan hệ nhân quả và hỗ tương này không chỉ trong gia đình, mà cả trong xã hội và trong tự nhiên cũng vậy. Chính mối quan hệ tương quan và duyên sinh này nói lên tính vô ngã của vạn vật và mọi tồn tại; chỉ khi thấy được tính vô ngã này thì chúng ta mới thôi phản ứng một cách chủ quan và cảm tính theo ý chí của một bản ngã vị kỷ. Nhân cách và cá tính của một con người là một tiến trình hình thành, phát triển và đổi thay tuỳ theo điều kiện sống. Chẳng có một cái ta tự sinh một cách độc lập, cứng nhắc và trường cửu nào cả; không có một cái ta tự hình thành và không chịu sự chi phối, tương tác với môi trường xung quanh, nhất là gia đình và xã hội. Hiểu như vậy chúng ta sẽ thấy thủ chấp vào một cái ‘tôi’ tưởng tượng và những cái ‘của tôi’ vốn chưa bao giờ có là một sự điên rồ ngốc nghếch. Chúng ta là sản phẩm của những tiến trình và chịu sự chi phối của những tiến trình đó, đồng thời phản ứng và cách cư xử của chúng ta cũng có ảnh hưởng lên tiến trình của đời sống.
Con cái của chúng ta cũng như vậy, chúng không phải là ‘của ta’ và phải theo ý ta hay thoả mãn những mong ước của chúng ta. Thấy như vậy chúng ta sẽ cho con những gì tốt đẹp nhất nhưng không thủ chấp, bám níu và đòi hỏi chúng phải như ý mình, không được như vậy thì sanh ra buồn khổ, thất vọng. Chính những đòi hỏi mong đợi thiếu thực tế của chúng ta làm chúng ta đau khổ. Đức Phật nói tham ái là nguyên nhân của mọi khổ đau. Chính những ngã chấp, ngã ái và ngã mạn của chúng ta làm chúng ta khổ sở, lo sợ, và tranh đấu để giữ thể diện cho một cái tôi không thật có hay cố công nhọc lòng giữ quyền kiểm soát sở hữu trên những cái ‘của tôi’ vốn không tồn tại. Ý chỉ này được Đức Phật thể hiện trong một câu kệ súc tích được gọi là Pháp Cú như sau:
“Con tôi, tài sản của tôi!
Sanh ra ưu não cho người cuồng si.
Ngay “ta” chẳng phải ta là,
Sản nghiệp, con cái chỉ là nợ duyên.”
(Pháp cú 62)
Công năng của giáo dục vô ngã là để giảm thiểu thủ chấp, ngã mạn, ích kỷ và sở hữu; vô ngã không có nghĩa là vô trách nhiệm và buông xuôi cho hoàn cảnh đẩy đưa. Đạo giác ngộ dạy chúng ta không nên tin tưởng và thực hành mù quáng theo tín ngưỡng giáo điều. Chúng ta cần phải đặt câu hỏi ngay cả với đức tin, tập tục, cảm tình, quan điểm dễ chấp nhận, và ngay cả với những luận cứ có vẻ logic. Nhưng sự tìm tòi thực nghiệm và tính sáng tạo không có nghĩa là tính bồng bột nổi loạn, phủ nhận, đả phá và tung hô mọi giá trị truyền thống có tính nhân bản. Do đó giáo dục nhân cách và giáo dục tình cảm phải làm cho con em thấy rõ trách nhiệm và bổn phận của mình trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Nếu không ý thức được điều này những đứa trẻ lớn lên rất dễ trở thành nạn nhân của văn hoá “hippie” và mất định hướng trong cuộc sống.
Hơn hai ngàn năm trăm năm trước Đức Phật dạy về năm bổn phận căn bản của cha mẹ đối với con cái như sau:
(1) ngăn ngừa con khỏi những điều bất thiện;
(2) khuyến khích, động viên con làm những điều lành;
(3) cho con học nghề nghiệp;
(4) hướng con đến một cuộc hôn nhân thích hợp;
(5) trao truyền sản nghiệp (vật chất và những giá trị văn hoá truyền thống) cho con một cách đúng lúc.
Những lời dạy này vẫn có giá trị thiết thực ngay trong thời đại của chúng ta. Nếu tất cả các bậc cha mẹ ghi nhớ và thực hành những lời dạy này chắc chẳn rằng gia đình sẽ bớt xung đột, xã hội sẽ bớt được rất nhiều tệ nạn, và cuộc sống nói chung sẽ bớt được nhiều rủi ro và khổ đau không cần thiết.
Con cái cần phải biết ơn cha mẹ, tự có trách nhiệm với chính mình và với cha mẹ dưới năm điểm căn bản (suy nghĩ như sau):
(1) Cha mẹ đã nuôi dưỡng ta, ta phải nâng đỡ cha mẹ;
(2) Ta phải thay cha mẹ chu toàn bổn phận;
(3) Ta phải giữ truyền thống gia đình;
(4) Ta phải xứng đáng là người thừa kế ;
(5) Ta phải làm phước để hồi hướng công đức đến
cha mẹ.
Trong bài Kinh Hạnh Phúc, việc thực hành bổn phận của một người con (trai) chân chính được nói đến như là phúc lạc. “Hỗ trợ cha mẹ (trong tuổi già hay khi đau ốm); là trụ cột của vợ và con; hành nghề nghiệp lương thiện; đó là hạnh phúc cao thượng”.
Tóm lại giáo dục trong gia đình chính là bước đầu tiên và rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của mỗi con người. Cách giáo dục và nuôi dưỡng sai lạc có thể để hoạ lại cho cả đời người, và ngược lại, cách giáo dục và nuôi dưỡng đúng đắn chính là nền tảng của hạnh phúc an vui lâu dài. Con người làm nên gia đình và xã hội, do đó con người có hạnh phúc thì gia đình mới hạnh phúc yên vui, xã hội mới hoà bình thịnh vượng.
Colombo June 26th, 2005.
Ayya Khema centre July 18th.
Nếu đời sống tinh thần của người mẹ thường bị khủng bố và bức bách, lo âu phiền muộn thì đứa trẻ sinh ra cũng yếu đuối, kém tự tin hay tinh thần bất định. Suốt quãng đời ấu thơ khi đứa trẻ sống gần như hoàn toàn tuỳ thuộc vào cha mẹ cũng là thời kỳ rất quan trọng trong sự hình thành và phát triển thể chất cũng như nhân cách của đứa trẻ. Nếu hiểu được tầm quan trọng này, các bậc làm cha làm mẹ sẽ phải có trách nhiệm hơn về sản phẩm mà họ đã sáng tạo, đó là con cái họ.
Có những bậc làm cha làm mẹ vì ít được học hỏi và thiếu kinh nghiệm nên rất bất cẩn. Họ thường chỉ phản ứng theo bản năng, nghĩa là chỉ tuân theo tiếng gọi của tự nhiên mà không suy nghĩ hay có sự chuẩn bị nào. Khi đứa trẻ được sinh ra thì cha mẹ chúng chỉ cố lo cho con đủ ăn, đủ mặc (với ý nghĩ rằng như vậy cũng đã tốt lắm rồi!), gửi chúng đến trường rồi phó mặc toàn bộ việc giáo dục cho nhà trường. Đây là một sai lầm rất căn bản vì thời gian ở trường của bé thường ít hơn thời gian ở nhà. Nếu các bậc cha mẹ biết rằng mọi lời ăn tiếng nói, cử chỉ và cách cư xử của mình đều để lại những ấn tượng đầu tiên và sâu đậm nhất trong cuộc đời con họ thì có lẽ họ đã không dám bất cẩn đến như vậy.
Đức Phật nói cha mẹ là những thầy cô đầu tiên của trẻ. Họ dạy con những tiếng bập bẹ đầu tiên, những bước đi đầu tiên; cũng chính trong giai đoạn này họ cho con những ý niệm sơ khởi về những mối quan hệ của trẻ với những thành viên khác trong gia đình: ai là cha, ai là mẹ, rồi ông bà, nội, ngoại, anh chị, cô dì, thím bác,…Những ý niệm sơ khởi này của bé về các mối quan hệ của bé với các thành viên khác trong gia đình đi kèm với ngôn ngữ và cử chỉ mà bé nên biểu hiện với từng người; những gì thì đươc khuyến khích và những gì thì bị ngăn chặn, đây là những ý niệm đầu tiên của trẻ về cách cư xử. Trẻ cũng được dạy rằng ông bà cha mẹ luôn yêu thương và bảo vệ bé, rằng bé ngoan ngoãn và vâng lời.
Nhưng đứa bé cũng có một thế giới riêng của nó, những đòi hỏi leo thang mà chúng ta gọi là thói hư tật xấu do được cưng chiều quá đáng hay bị bỏ bê quá. Nếu các bậc làm cha làm mẹ không hiểu được thế giới riêng của bé, chỉ đòi hỏi bé phải tuân theo những mực thước mà họ đặt ra thì chỉ làm cho bé hoặc là mất đi sự tự tin, trở nên yếu đuối, thụ động và lệ thuộc, hoặc trẻ sẽ có những biểu hiện giận dữ chống đối dưới nhiều hình thức khác nhau. Cả hai hướng phản ứng này đều có thể dẫn đến sự phát triển không lành mạnh cả về thể chất` lẫn tinh thần của bé. Nếu bé mất đi sự tự tin, trở nên thụ động và lệ thuộc thì kết quả học tập của bé thường thua kém, sa sút làm bé cảm thấy không hứng thú trong việc học cũng như đến trường. Nếu trẻ giận dữ chống đối thì trẻ dễ bỏ học đi hoang và nói dối, hay gây gỗ với bạn bè, chống đối với thầy cô giáo hay với người lớn nói chung.
Để tránh những biểu hiện tiêu cực này thứ nhất cha mẹ phải quan tâm hơn đến con cái của họ, phải có trách nhiệm với “những sản phẩm” của họ:
- Đừng bao giờ dạy con chửi thề, nói dối hay giễu cợt người khác;
- Đừng bao giờ chửi thề, nói dối hay giễu cợt người khác trước mặt trẻ;
- Đừng bao giờ tỏ thái độ bất kính hay coi thường cha mẹ mình (là ông bà của bé).
Tâm hồn trẻ thơ như tờ giấy trắng mà cha mẹ trẻ là những người viết những dòng đầu tiên lên đó. Đó là những dòng chữ nắn nót, trân trọng hay những vết bôi bẩn, nghệch ngoạc, đầy bất cẩn và lỗi chính tả làm hoen ố tờ giấy trắng là trách nhiệm của cha mẹ. Tâm hồn trẻ như một tấm gương trong sạch và phản ảnh những hành động, cử chỉ và lời ăn tiếng nói của cha mẹ và người lớn một cách tự nhiên. Nếu cha mẹ chửi thề, nói tục hay cãi lộn thì trẻ cũng học theo và chứng tỏ là mình không thua kém gì! Nếu cha mẹ giận dữ bạt tai hay phạt đòn trẻ vì những hành vi sai trái này thì trẻ cũng học cách biểu hiện sự bất đồng của mình bằng thái độ giận dữ và bạo lực đối với đồ chơi của bé, với đồ vật, với vật nuôi, hay với các trẻ khác ở trường.
Nếu trẻ được quan tâm săn sóc, được nghe những lời hiền hoà tử tế thì như một tiếng vang, trẻ cũng biểu hiện thái độ quan tâm giúp đỡ và dịu dàng tử tế với những người khác hay với đồ chơi của bé. Đôi khi môi trường xung quanh cũng có những ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của trẻ con. Nhiều khi cha mẹ trẻ không có những hành vi cử chỉ thiếu văn hoá và thiếu giáo dục nhưng những người hàng xóm xấu hay bất cẩn cũng có thể để lại những ấn tượng xấu trên trẻ con. Trẻ có thể học biểu hiện sự phẫn nộ, chửi tục và nói dối từ bên ngoài gia đình.
Từ những phân tích trên, nếu thấy trẻ có những biểu hiện tiêu cực như hay giận hờn, trả đũa, nói dối, nói tục, cứng đầu, ương ngạnh,.. thì việc đầu tiên các bậc cha mẹ nên nghiêm khắc nhìn lại cách cư xử của mình, do sự bất cẩn trong cách ăn nói, cư xử của họ mà bé học theo hay do ảnh hưởng xấu từ bên ngoài tác động lên trẻ?
Có một điều đáng quan tâm nữa là có những bậc cha mẹ lại quá sở hữu và ích kỷ hẹp hòi. Họ cho rằng họ là những người có toàn quyền duy nhất đối với con cái họ. Xu hướng tâm lý này dẫn đến việc là họ cấm đoán con cái mình không được tiếp xúc với những người xung quanh, bảo con rằng họ là người xấu, nói dối, kẻ trộm, vv. Điều này gieo vào lòng trẻ con sự sợ sệt, nghi kỵ không cần thiết. Những đứa trẻ con của những bậc cha mẹ như vậy thường cách biệt, lạnh nhạt hoặc sợ sệt nghi kỵ; ở những đứa trẻ này không có sự cởi mở hồn nhiên như những trẻ con khác. Đây cũng là một xu hướng phát triển tâm sinh lý thiếu lành mạnh khác.
Nhiều bậc cha mẹ mong đợi ở con cái quá nhiều. Họ mong con mình phải luôn thông minh, nhanh nhẩu và học giỏi; mong con mình phải luôn xuất sắc trong mọi lĩnh vực. Điều này thật tham lam! Có một sự thật mà ai cũng biết là không phải tất cả trẻ con được sinh ra đều thông minh, khoẻ mạnh và lanh lợi. Mặc dù các bậc cha mẹ có xu hướng lý tưởng thường làm hết cách để con họ có những điều kiện tốt nhất để học tập, vui chơi và sinh hoạt nhưng nhiều trẻ em đã không thoả mãn được những tham vọng của cha mẹ. Khi trẻ tỏ ra không được thông minh, lanh lợi như cha mẹ trẻ hằng mong muốn thì họ tỏ ra rất thất vọng và tìm cách này hay cách khác gây sức ép lên trẻ. Những đứa trẻ tội nghiệp này thường cảm thấy thiếu tự tin, không xứng đáng với sự quan tâm và mong mỏi của cha mẹ các em. Cảm giác bị đè nặng bởi sự mong đợi của cha mẹ làm em thiếu tự nhiên và càng kém tự tin hơn. Có những em đã đi đến chỗ lo lắng thái quá thành ra giao động và mệt mỏi thường xuyên, hoặc trở nên trầm cảm vì cảm giác không xứng đáng. Cả hai tình trạng này đều có thể dẫn đến thân bệnh và tâm bệnh nơi trẻ em. Đây là một mặt tiêu cực khác của việc giáo dưỡng con cái.
Chúng ta cần phải biết rằng ở một mức độ nào đó chúng ta không thể khiến mọi việc phải như ý mình, ngay cả với những người thông minh và khôn ngoan nhất đi nữa thì cũng có nhiều điều trong cuộc sống xảy ra bất như ý, ngay cả với con cái của chúng ta cũng vậy. Trong thời đại khoa học và kỹ thuật phát triển như hiện nay nhiều người có thể sinh con như ý muốn nhưng điều này không xảy ra cho tất cả mọi người. Khi trẻ không như ý ta, chúng ta phải nhìn nhận một sự thật là trẻ có những duyên nghiệp và một thế giới riêng với những điều kiện và hạn chế của nó. Chúng ta không thể áp đặt mọi quan kiến, giá trị và chuẩn mực của chúng ta cho trẻ, và rồi gò ép các em phải tuân theo một khuôn mẫu định sẵn của thế hệ chúng ta. Khi bị gò ép thái quá có thể dẫn đến hai loại phản ứng tiêu cực mà tôi đã nêu ra ở trên. Trong cả hai trường hợp đều dẫn đến sự mất mát nơi trẻ, đó là cơ hội được phát triển một cách tự nhiên lành mạnh, và nó ảnh hưởng xấu đến tính sáng tạo, tự tin nơi trẻ em.
Giáo dục trong gia đình cần nhất là tình thương yêu, sự quan tâm đúng mức, và cả sự hiểu biết và tế nhị nữa. Thứ nhất các bậc cha mẹ phải có tinh thần trách nhiệm với những ‘sản phẩm của họ’; thứ hai là tình thương yêu quan tâm và sự uốn nắn đúng mức và kịp thời. Trong Phật Giáo những phẩm chất này được gọi là Từ và Nghiêm. Từ là tình thương yêu vô bờ, vô điều kiện và vô giới hạn, luôn mong mỏi cho con trẻ được an toàn, hạnh phúc. Từ thường được nhận thấy trong tình mẹ, một sự gần gũi yêu thương và săn sóc vô điều kiện. Có những người mẹ sẵn sàng hy sinh cả mạng sống của mình cho con, suốt đời tận tuỵ nuôi con. Nghiêm là phẩm chất thường được nhận thấy nơi người cha, thương nhưng không thái quá, không nuông chiều những đòi hỏi thiếu lành mạnh của trẻ. Từ là tình cảm, nghiêm là lý trí biết đâu là giới hạn, những gì cần và không cần, nên và không nên. Chỉ có từ mà không nghiêm thì dễ làm cho trẻ hư, vòi vĩnh cả những điều không lành mạnh; trong một số trường hợp cũng có thể làm cho trẻ trở nên yếu đuối, thiếu ý chí tự lập và chỉ muốn dựa dẫm vào người khác. Nghiêm mà không từ thì xa cách khó gần, nhiều khi dẫn đến tình trạng khô khan, không dám biểu hiện tình cảm và sự quan tâm nơi trẻ. Có những người có tình cảm rất mãnh liệt nhưng không thể biểu hiện ra ngoài được và rất khổ sở phải nhờ đến sự giúp đỡ của tâm lý học trị liệu. Những người này thường có một tuổi thơ ít được quan tâm âu yếm, và chịu ảnh hưởng của tâm lý rằng bày tỏ và thể hiện tình cảm là sự yếu đuối hay khuyến khích sự yếu đuối. Kết quả là những đứa trẻ lớn lên theo cách giáo dục này, hay bị ảnh hưởng của những quan niệm rằng tình cảm là yếu đuối, không xứng đáng, tội lỗi, vv thì thường có vẻ lãnh cảm; mực thước qui củ nhưng khô khan cằn cỗi. không phải những người đó không có tình cảm, nhưng tình cảm của họ thường bị dồn nén, hay bị bóp méo thành khắc kỷ; một số người rất muốn được bộc lộ tình cảm nhưng lại cảm thấy mất tự nhiên, cực kỳ bối rối và vụng về khi phải thể hiện tình cảm.
Do đó, bên cạnh việc giáo dục tri thức, khoa học và kỹ thuật, thì sự giáo dục nhân cách và giáo dục tình cảm cũng là những mặt rất quan trọng. Để có được một đời sống hạnh phúc và lành mạnh con người cần tất cả những yếu tố như sức khoẻ, kiến thức, kỹ năng, nhân cách tốt đẹp và tình cảm thăng bằng. Trong bốn câu đầu tiên của bài Kinh Tâm Từ có liệt kê những phẩm chất cần thiết để người ta có thể sống an lạc, đó là: (1) có khả năng (thuộc về kiến thức và kỹ năng), (2) ngay thẳng và chân thật (thuộc về nhân cách), (3) nói lời hoà ái, (4) mềm mỏng và không kiêu mạn (3 và 4 thuộc về về đạo đức cư xử). Ngoài ra có sự hiểu biết đúng đắn về nhân duyên và vô ngã cũng là một điều kiện thiết yếu trong việc giáo dục nhân cách và tình cảm.
Như trên chúng ta đã phân tích, sự ảnh hưởng qua lại giữa cha mẹ và con cái là một sự ảnh hưởng vừa có tính nhân quả, vừa có tính hỗ tương. Chúng ta phải thấy được mối quan hệ nhân quả và hỗ tương này không chỉ trong gia đình, mà cả trong xã hội và trong tự nhiên cũng vậy. Chính mối quan hệ tương quan và duyên sinh này nói lên tính vô ngã của vạn vật và mọi tồn tại; chỉ khi thấy được tính vô ngã này thì chúng ta mới thôi phản ứng một cách chủ quan và cảm tính theo ý chí của một bản ngã vị kỷ. Nhân cách và cá tính của một con người là một tiến trình hình thành, phát triển và đổi thay tuỳ theo điều kiện sống. Chẳng có một cái ta tự sinh một cách độc lập, cứng nhắc và trường cửu nào cả; không có một cái ta tự hình thành và không chịu sự chi phối, tương tác với môi trường xung quanh, nhất là gia đình và xã hội. Hiểu như vậy chúng ta sẽ thấy thủ chấp vào một cái ‘tôi’ tưởng tượng và những cái ‘của tôi’ vốn chưa bao giờ có là một sự điên rồ ngốc nghếch. Chúng ta là sản phẩm của những tiến trình và chịu sự chi phối của những tiến trình đó, đồng thời phản ứng và cách cư xử của chúng ta cũng có ảnh hưởng lên tiến trình của đời sống.
Con cái của chúng ta cũng như vậy, chúng không phải là ‘của ta’ và phải theo ý ta hay thoả mãn những mong ước của chúng ta. Thấy như vậy chúng ta sẽ cho con những gì tốt đẹp nhất nhưng không thủ chấp, bám níu và đòi hỏi chúng phải như ý mình, không được như vậy thì sanh ra buồn khổ, thất vọng. Chính những đòi hỏi mong đợi thiếu thực tế của chúng ta làm chúng ta đau khổ. Đức Phật nói tham ái là nguyên nhân của mọi khổ đau. Chính những ngã chấp, ngã ái và ngã mạn của chúng ta làm chúng ta khổ sở, lo sợ, và tranh đấu để giữ thể diện cho một cái tôi không thật có hay cố công nhọc lòng giữ quyền kiểm soát sở hữu trên những cái ‘của tôi’ vốn không tồn tại. Ý chỉ này được Đức Phật thể hiện trong một câu kệ súc tích được gọi là Pháp Cú như sau:
“Con tôi, tài sản của tôi!
Sanh ra ưu não cho người cuồng si.
Ngay “ta” chẳng phải ta là,
Sản nghiệp, con cái chỉ là nợ duyên.”
(Pháp cú 62)
Công năng của giáo dục vô ngã là để giảm thiểu thủ chấp, ngã mạn, ích kỷ và sở hữu; vô ngã không có nghĩa là vô trách nhiệm và buông xuôi cho hoàn cảnh đẩy đưa. Đạo giác ngộ dạy chúng ta không nên tin tưởng và thực hành mù quáng theo tín ngưỡng giáo điều. Chúng ta cần phải đặt câu hỏi ngay cả với đức tin, tập tục, cảm tình, quan điểm dễ chấp nhận, và ngay cả với những luận cứ có vẻ logic. Nhưng sự tìm tòi thực nghiệm và tính sáng tạo không có nghĩa là tính bồng bột nổi loạn, phủ nhận, đả phá và tung hô mọi giá trị truyền thống có tính nhân bản. Do đó giáo dục nhân cách và giáo dục tình cảm phải làm cho con em thấy rõ trách nhiệm và bổn phận của mình trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Nếu không ý thức được điều này những đứa trẻ lớn lên rất dễ trở thành nạn nhân của văn hoá “hippie” và mất định hướng trong cuộc sống.
Hơn hai ngàn năm trăm năm trước Đức Phật dạy về năm bổn phận căn bản của cha mẹ đối với con cái như sau:
(1) ngăn ngừa con khỏi những điều bất thiện;
(2) khuyến khích, động viên con làm những điều lành;
(3) cho con học nghề nghiệp;
(4) hướng con đến một cuộc hôn nhân thích hợp;
(5) trao truyền sản nghiệp (vật chất và những giá trị văn hoá truyền thống) cho con một cách đúng lúc.
Những lời dạy này vẫn có giá trị thiết thực ngay trong thời đại của chúng ta. Nếu tất cả các bậc cha mẹ ghi nhớ và thực hành những lời dạy này chắc chẳn rằng gia đình sẽ bớt xung đột, xã hội sẽ bớt được rất nhiều tệ nạn, và cuộc sống nói chung sẽ bớt được nhiều rủi ro và khổ đau không cần thiết.
Con cái cần phải biết ơn cha mẹ, tự có trách nhiệm với chính mình và với cha mẹ dưới năm điểm căn bản (suy nghĩ như sau):
(1) Cha mẹ đã nuôi dưỡng ta, ta phải nâng đỡ cha mẹ;
(2) Ta phải thay cha mẹ chu toàn bổn phận;
(3) Ta phải giữ truyền thống gia đình;
(4) Ta phải xứng đáng là người thừa kế ;
(5) Ta phải làm phước để hồi hướng công đức đến
cha mẹ.
Trong bài Kinh Hạnh Phúc, việc thực hành bổn phận của một người con (trai) chân chính được nói đến như là phúc lạc. “Hỗ trợ cha mẹ (trong tuổi già hay khi đau ốm); là trụ cột của vợ và con; hành nghề nghiệp lương thiện; đó là hạnh phúc cao thượng”.
Tóm lại giáo dục trong gia đình chính là bước đầu tiên và rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của mỗi con người. Cách giáo dục và nuôi dưỡng sai lạc có thể để hoạ lại cho cả đời người, và ngược lại, cách giáo dục và nuôi dưỡng đúng đắn chính là nền tảng của hạnh phúc an vui lâu dài. Con người làm nên gia đình và xã hội, do đó con người có hạnh phúc thì gia đình mới hạnh phúc yên vui, xã hội mới hoà bình thịnh vượng.
Colombo June 26th, 2005.
Ayya Khema centre July 18th.
Cuộc sống nhìn từ những góc độ khác nhau: Quán Niệm Về Vô Thường
Cuộc sống nhìn từ những góc độ khác nhau: Quán Niệm Về Vô Thường: "Có nhiều cách để quán niệm về sự vô thường. Vô thường ở quanh ta, mọi lúc và mọi nơi, có điều chúng ta giả làm ngơ để không phải công nhận s..."
Quán Niệm Về Vô Thường
Có nhiều cách để quán niệm về sự vô thường. Vô thường ở quanh ta, mọi lúc và mọi nơi, có điều chúng ta giả làm ngơ để không phải công nhận sự có mặt thường hằng của nó. Không chỉ có đoá hoa vô thường khiến ong bướm ngẩn ngơ, mà cỏ cây, đá cuội và cả con người nữa cũng vô thường không kém. Nếu không có sự vô thường, chắc chắn là cuộc sống tẻ nhạt hơn nhiều. Nhưng vô thường cũng khiến chúng ta đau xót tiếc nuối không ít. Tuổi trẻ không ở lại mãi mãi, khi chúng ta già đi từng ngày, ta tiếc nuối những ngày xanh đã qua. Một bà lão hay một ông cụ thì nhìn không hấp dẫn như một thiếu nữ hay một người trẻ trai. Vì sao những người già thường đem chuyện xưa ra kể? Vì họ tiếc nuối một thời… ai cũng có một thời để nhớ. Vô thường không chỉ cướp đi tuổi thanh xuân hay sắc đẹp, nó ‘ăn cắp’ cả sức khoẻ nữa. Người ta trở nên bệnh hoạn yếu đuối, lưng còng và bước đi xiêu vẹo, tay chân run rẩy, mắt mờ răng rụng, …Vô thường cướp đi những người thân yêu bằng sự chia ly vĩnh viễn của cái chết. Vô thường với đến tài sản: có đó rồi không đó, được và mất. Vô thường khiến chúng ta bất an, lo lắng cho địa vị, cho tiếng tăm, cho tình yêu, và cho mọi thứ ta vẫn cố tình nhận nhầm là ‘của ta’. Vô thường biến khoái lạc thành dư vị đắng chát. Khi tình yêu không còn, người ta thôi thì thầm những lời ngọt ngào êm ái, họ văng vào nhau những lời chua cay gắt gỏng hay giận dữ. Vô thường đến với cả ý tưởng, cảm xúc, quan niệm và dòng chảy của tâm thức, và của chính cuộc đời - trong vạn pháp, chỉ có vô thường là pháp bất biến.
Khi quán niệm về vô thường, hành giả có thể thấy bà lão trong cô thiếu nữ, thấy thiếu nữ trong bà lão, và đây chính là cách hữu hiệu nhất để diệt trừ tâm say đắm, tự hào hay chối bỏ ghê tởm. Quán niệm về vô thường cho hành giả trạng thái tự tại, không bị cuốn hút trước những đối tượng hấp dẫn khả ái, cũng không bị ghê sợ dằn vặt hay bất mãn với những đối tượng thiếu khả ái hay kém hấp dẫn. Người quán niệm về vô thường thì không bị chi phối hay trở nên nô lệ cho đối tượng. Khi đối tượng đang hiện hữu, hành giả biết pháp đó đang có mặt, nhưng cũng biết rằng nó đang đi qua như mọi pháp khác. Hành giả có thể nhìn mọi pháp đến và đi mà không xô đẩy hay níu kéo kinh nghiệm, nội tâm được bình thản và an nhiên không bị khuấy động bởi mong ước hay phản ứng với đối tượng. Thấy vô thường là thấy khổ trong lạc để không còn bám víu; thấy vô thường trong khổ để thôi chạy trốn, thấy vô ngã trong vô ký để chấm dứt vô minh.
Last updated Apr. 27th 2007
Buddhist Cultural Centre, 125 Anderson Road, Nedimala, Dehivala, Sri Lanka.
Khi quán niệm về vô thường, hành giả có thể thấy bà lão trong cô thiếu nữ, thấy thiếu nữ trong bà lão, và đây chính là cách hữu hiệu nhất để diệt trừ tâm say đắm, tự hào hay chối bỏ ghê tởm. Quán niệm về vô thường cho hành giả trạng thái tự tại, không bị cuốn hút trước những đối tượng hấp dẫn khả ái, cũng không bị ghê sợ dằn vặt hay bất mãn với những đối tượng thiếu khả ái hay kém hấp dẫn. Người quán niệm về vô thường thì không bị chi phối hay trở nên nô lệ cho đối tượng. Khi đối tượng đang hiện hữu, hành giả biết pháp đó đang có mặt, nhưng cũng biết rằng nó đang đi qua như mọi pháp khác. Hành giả có thể nhìn mọi pháp đến và đi mà không xô đẩy hay níu kéo kinh nghiệm, nội tâm được bình thản và an nhiên không bị khuấy động bởi mong ước hay phản ứng với đối tượng. Thấy vô thường là thấy khổ trong lạc để không còn bám víu; thấy vô thường trong khổ để thôi chạy trốn, thấy vô ngã trong vô ký để chấm dứt vô minh.
Last updated Apr. 27th 2007
Buddhist Cultural Centre, 125 Anderson Road, Nedimala, Dehivala, Sri Lanka.
Vô Ngã – Vị Tha
Trong một cuộc nói chuyện với Phật tử, tôi nhận thấy nhiều người đã hiểu sai tinh thần của Đạo Phật qua giáo lý Vô ngã - Vị tha và Bi - Trí - Dũng. Bài viết này nhằm giúp các Phật tử ít có cơ hội tìm hiểu kinh điển nguyên nghĩa (công truyền và tinh yếu) liên quan đến những giáo lý căn bản và pháp hành phổ thông trong Đạo Phật.
Như một câu cửa miệng, nhiều người nói Đạo Phật là đạo của vô ngã - vị tha, nôm na hiểu là quên mình giúp người. Ngược lại, Thiên chúa giáo lại chỉ trích ĐẠO PHẬT là thiếu tính xã hội và thiếu tinh thần phục vụ, chỉ lo tích đức, tăng phước hay giải thoát cho cá nhân mà thôi. Về một mặt nào đó, quả là đã có những người hay nhóm người hiểu không chính xác, thực hành sai và giảng dạy thiên lệch về tinh thần Giác ngộ và Siêu thế trong ĐẠO PHẬT khiến cho những lời phê bình trên là không hoàn toàn vô căn cứ.
Đức Phật có dạy quên mình giúp người không? Câu trả lời là khẳng định! Trong các câu chuyện Tiền thân (Jataka stories) khi đề cập đến Bố Thí Ba La Mật (dāna paramī), Bồ Tát đã hy sinh không chỉ tài sản (tài thí- cấp độ thứ nhất của hạnh bố thí hay xả bỏ) mà ngài còn cho đi từng phần của thân thể hay cả tính mạng của chính mình nữa để cứu giúp tha nhân khi cần thiết. Chỉ riêng hạnh Ba La Mật này cũng đã thể hiện đầy đủ tinh thần Bi – Trí - Dũng nếu nó được thực hành một cách đúng đắn. Thấy tha nhân đau khổ, thiếu thốn, hành giả chia sẻ những gì mình có để giảm thiểu nỗi khổ của người khác - đây chính là Bi. Bi khi đi với Trí thì không luỵ, ngược lại, Bi mà thiếu Trí thì rất dễ bị luỵ, nghĩa là giúp người không hữu hiệu mà còn mang phiền toái hệ luỵ đến mình. Như người không biết bơi hay bơi chưa giỏi mà lao xuống sông cứu người chết đuối thì kết quả là cả hai cùng chết chìm. Nhưng từ sự hiểu rõ tình huống và muốn giúp, và nỗ lực đúng cách để giúp khi cần thiết thì đó chính là Bi - Trí - Dũng. Tại sao sư lại dùng từ ‘cần thiết’? Vì trong một số tình huống, sự giúp đỡ chỉ làm xấu thêm tình hình: như tiếp tay cho kẻ trộm, tham ô, móc ngoặc chẳng hạn; hay o bế người ta quá khiến kẻ đó trở nên lệ thuộc, ỷ lại, mất đi tính độc lập và tự tin vào khả năng vươn lên của mình thì cũng không nên.
Trong Tăng Chi Bộ Kinh (Anguttara Nikāya) có liệt kê về bốn hạng người thiết nghĩ cũng nên biết đến ở đây. Gì là bốn hạng người đã được đề cập? Hạng người thứ nhất thì “sống như đã chết” nghĩa là không đem đến lợi ích cho ai cả, buông trôi ngay cả chính cuộc đời mình. Đây là loại người không có một định hướng nào trong cuộc sống , (maladjudgement and inadequate). Hạng người thứ hai thì chỉ lo cho lợi ích của người khác mà không mấy quan tâm đến lợi ích của chính mình. Những người kiểu này thường bị chế giễu là “ăn cơm nhà vác ngà voi” trong dân gian vì họ quá năng nổ trong các công việc xã hội mà lại quên đi bổn phận với chính mình và gia đình mình. Hạng người thứ ba thì lại chỉ chăm chăm vào lợi ích của chính mình mà không quan tâm đến lợi ích của người khác. Những người như vậy thì hay bị chỉ trích là ích kỷ và thủ phận. Những chỉ trích này có xác đáng hay không chúng ta sẽ thấy trong phần sau. Hạng người thứ tư thì làm việc vì lợi ích của chính mình và đem lợi ích đến cho những người khác nữa. Các vĩ nhân nhân trên thế giới là những người có nhân cách, trí tuệ và tinh thần phục vụ tuyệt vời này.
Trong bốn hạng người kể trên, Đức Phật nói rằng hạng người thứ tư là tuyệt vời nhất, đáng ca ngợi và khâm khục nhất. Điều này thật dễ thấy, trong bất cứ cộng đồng hay xã hội nào, hạng người năng động, sáng tạo và đầy thiện chí như vậy cũng được tán dương. Nhưng hạng người tốt kế tiếp trong thước đo của Bậc Giác ngộ lại không như chúng ta thường nghĩ một cách hời hợt. Người biết làm việc vì lợi ích của chính mình, dù không mấy bận tâm đến thiên hạ ra sao, lại được xếp vào hạng người tốt thứ hai, hơn cả người chỉ lo cho người khác mà không tự làm lợi ích cho mình. Hạng người tồi nhất là không lợi ích cho ai cả, điều này thì quá hiển nhiên không cần thiết phải giải thích. Trong bài pháp đó, Đức Phật cũng giải thích thế nào là làm lợi ích cho mình và làm lợi ích cho người. Người sống có nguyên tắc, tự chủ và điềm tĩnh, luôn tinh tấn trong các thiện pháp dẫn đến hạnh phúc tối thượng (Niết bàn, nơi vắng bóng tham, sân, si, trạng thái đã đoạn tận mọi khổ luỵ) thì được gọi là người sống vì lợi ích của chính mình. Người tự mình thực hành những pháp thiện xảo như vậy, lại dạy bảo, nâng đỡ người khác để họ cùng sống đời sống chuẩn mực và hữu ích thì được gọi là người đem lợi ích đến cho mình và cho tha nhân. Người chỉ dạy người khác sống tốt mà tự mình không thực hành những điều đã dạy người thì gọi là người không biết sống cho lợi ích của chính mình.
Như vậy, rõ ràng chữ ‘vị tha’ ở đây là rất thực tế, nó không chỉ là thiện ý, mà còn là thực lực và phương pháp nữa. Bạn chỉ có thể cho những gì bạn có, bạn không thể cho những gì mình không có. Chỉ khi bạn vừa có thực lực, vừa có thiện ý thì mới có thể làm từ thiện. Nếu bạn không có gì cả ngoại trừ một đống khổ đau, bối rối và mất phương hướng trong cuộc đời thì bạn cũng không thể giúp được ai, dù bạn yêu thương người ta đến đâu đi nữa thì cũng chỉ là những ý tưởng hão huyền không thực tế. Khi bạn đang buồn bực, phiền muộn, làm sao bạn có thể cho người khác hạnh phúc an vui? Bầu không khí quanh người phiền muộn lo âu hay giận dữ cũng bị ảnh hưởng cái nóng nảy bức xúc của một vài cá nhân đang có tâm trạng không vui. Và nó có thể trở thành một phản ứng dây chuyền dẫn tới một cuộc bạo động hay nổi loạn. Ngược lại, khi bạn đang vui vẻ hạnh phúc, dù bạn không có tác ý ‘cho người’ cái tâm trạng hạnh phúc đó thì những người thấy bạn cũng cảm nhận được cái tinh thần phấn chấn của bạn. Và như vậy là bạn đã ‘cho’ cái nguồn sinh lực tích cực đó rồi. Do vậy hãy làm sao cho chính bạn được hạnh phúc an vui, rồi bạn mới có thể cho người niềm hạnh phúc an vui. Nếu bạn vừa có thiện ý, vừa có khả năng và phương tiện thiện xảo nữa thì thật tuyệt vời.
Trong một bối cảnh khác Đức Phật lại khuyến khích chúng ta hãy phát tâm từ bi vô lượng đến tất cả chúng sinh: dù lớn hay bé, dù thấp hay cao, dù sang hay hèn, dù gần hay xa, dù thấy được hay không thấy được. Hãy đối xử với mọi người bằng tình của một người mẹ luôn yêu thương và hy sinh cho đứa con duy nhất của mình. Hãy duy trì tình thương cao cả và quên mình này trong mọi lúc, mọi nơi, từ lúc mở mắt chào một ngày mới cho đến khi rơi vào giấc ngủ an lành. Đừng bao giờ ôm ấp những tâm niệm sân si hờn oán và mong người gặp khổ đau hoạn nạn. Đừng dối lừa người dù chỉ là một lời hứa suông. Hãy thương và ôm trọn vào lòng ngay cả những khiếm khuyết và bất toàn của mình và tha nhân. Tình thương và sự cảm thông sẽ hoá giải và chuyển biến những năng lực hay phẩm chất tiêu cực, vô dụng, hay thậm chí độc hại thành hữu ích, tích cực và tốt lành.
Thương những gì dễ thương thì thật dễ, bất cứ một người bình thường nào cũng có thể làm được; nhưng thương những gì khó thương, những trái ý nghịch lòng, những cừu thù oán hận thì không phải là dễ. Tâm chúng ta quen phân biệt xấu-tốt, được-mất, hay-dở, thích–không thích, thân– không thân, bạn–thù vv. Những phân biệt chia chẻ nhị nguyên này thường là điểm xuất phát của nhiều thứ phiền não khác như ích kỷ, ganh tỵ, thiên vị, thiếu bao dung hay đố kỵ, hiềm hận… Biết chăng những giá trị mà chúng ta gán cho đối tượng thì rất chủ quan, phiến diện và thường bị ảnh hưởng bởi cảm tính nên chúng không phải là những thước đo đáng tin cậy. Ý thức được điều này, người thiện trí không để cho những cảm tính chủ quan dẫn đến những tình cảm thiên vị hay đố kỵ, không phản ứng hay cư xử một cách hấp tấp, bốc đồng (react impulsively). Người thực hành rốt ráo những gì Phật dạy thì không xem ai là kẻ thù, nhìn tất cả chúng sanh bằng cái tâm bao dung, cởi mở và bình đẳng không phân biệt. Đây mới đích thực là tinh thần vô ngã của Đạo Phật.
Vô ngã không phải là xả mình hay quên mình cho một mục đích nào đó (cho người thân yêu, cho chủ nghĩa- lý tưởng mà mình tôn thờ, cho đất nước hay tôn giáo… - chúng ta sẽ bàn thêm ở phần sau - chúng chỉ là những giá trị mở rộng của bản ngã), mà vô ngã là không chấp thủ, vô phân biệt, bình đẳng và trung dung trước mọi cao-thấp, tốt -xấu, hơn–thua, được-mất, và thị phi của cuộc đời. Vô ngã không phải là quên mình, mà là biết mình, biết người nhưng không chấp thủ vì thấy được sự vận hành không ngừng của vạn pháp trong đó có cả những gì cấu trúc nên mỗi cá nhân. Sự vận hành đó có tính tương quan nhân duyên, khi những yếu tố như vậy, hoàn cảnh như vậy cùng xuất hiện thì hiện tượng như vậy sinh khởi, khi những yếu tố, điều kiện thay đổi thì sự vật, con người và các hiện tượng cũng thay đổi. Thấy được những thay đổi, vận động, hình thành và tan rã không ngừng trong mọi hiện hữu, chúng ta sẽ thôi chấp thủ vào một giá trị bất biến hay một bản ngã thường hằng đang tồn tại trong ta (ātman) hay ngoài tầm nhận thức của chúng ta (Thượng Đế - God or Brahma).
Đức Phật không cho rằng có một soạn giả hay đạo diễn nào đằng sau những vở kịch cuộc đời này. Nó là một sự vận hành theo các qui luật vô ngã, hay nói theo ngôn ngữ thông thường, chúng là những qui luật tự nhiên có tính tương tác và chi phối lẫn nhau trong một sự vận động không ngừng. Nói như vậy không có nghĩa là mọi chuyện xẩy ra một cách ngẫu nhiên và tuỳ hứng, và chúng ta không phải chịu trách nhiệm cho chính cuộc đời mình. Thật ra phản ứng của chúng ta, cái phản ứng xuất phát từ khuynh hướng từ chối và thủ giữ của bản ngã chấp thủ quyết định phẩm chất của những kinh nghiệm mà chúng ta đã đi qua, đang là và sẽ gặp trong cuộc đời. Cái bản ngã mà chúng ta tự tạo nên như một vỏ bọc để tồn tại, để chống lại những gì khiến chúng ta đau khổ, bất mãn vốn không thực. Do nhân duyên, hoàn cảnh, chúng đã được tạo nên và chúng có những giá trị đối trị nhất thời nhưng nếu chúng ta thủ giữ vào những hình mẫu giả tạo và lỗi thời này, chúng ta sẽ không bắt kịp nhịp độ vận hành tự nhiên của vạn pháp trong đó những gì cấu thành nên một nhân cách, một cá tính cũng đã thay đổi. Sự thủ giữ tất yếu sẽ dẫn đến xung đột ngay bên trong cá nhân đó cũng như xung đột trong các mối quan hệ của cá nhân đó với môi trường xung quanh.
Vì chúng ta chấp thủ cái thân này (sắc uẩn) là ta nên mới o bế, chiều chuộng và thoả mãn mọi đòi hỏi của nó. Nếu ai động đến nó, chúng ta cảm thấy bị tổn thương và căm hận tìm cách trả đũa. Vì xem thân là ta nên mới tránh lao tổn tấm thân đó vì người, người chấp thân là ta thì thường rất ích kỷ và không phục vụ ai cả, chỉ lo giữ lấy tấm thân lành lặn. Vì chấp thân là ta nên khi nó khỏe mạnh thì chúng ta hạnh phúc hồ hởi, khi nó bệnh hoạn đau ốm thì chúng ta sầu muộn lo âu, than thân trách phận. Khi thân đẹp đẽ trẻ trung thì kẻ đồng hoá với thân đó tự kiêu, ngã mạn; khi thân đó xấu xí, bệnh hoạn, và già nua thì người ta mặc cảm tự ti. Chấp thủ vào thân thể hay vật chất thì mọi thay đổi, biến động từ chúng đều làm chúng ta bất an và lo lắng. Chấp thủ vào thân thể, vật chất, tài sản,.. là cấp độ thô thiển nhất (và cũng phổ biến nhất) của ngã chấp. Trong thuật ngữ Phật học, chúng được gọi là thân kiến (sakkayaditthi). Kế đến là chấp thủ vào cảm thọ, nhận thức (thọ uẩn và tưởng uẩn), như chúng ta đã đề cập sơ qua ở phần trên, đó là cái tâm phân biệt, đánh giá và phản ứng hấp tấp vội vàng. Từ những cảm nhận, đánh giá và phản ứng đó khiến sanh ra những tâm trạng vui -buồn, yêu ghét, vv (hành uẩn). Và những chất liệu vừa kể trên được tích trữ và làm nền cho những phản ứng mới một cách có ý thức hay bị điều động bởi vô thức (bao gồm trong thức uẩn) .
Khi có sự chấp thủ, nghĩa là có sự nắm bắt, sở hữu và giới hạn, vô hình chung chúng ta tự khoá mình, tự điều kiện hoá và giới hạn những cảm giác, nhận thức và thái độ hay phản ứng của chúng ta trong một cái khung nhất định gọi là bản ngã. Cái bản ngã đó đã được hình thành do nhiều yếu tố như gia đình, xã hội, những điều kiện thiên nhiên, văn hoá, giáo dục, lịch sử, và vv. Như đã bàn ở trên, những yếu tố, điều kiện đó vốn không ngừng thay đổi, nhưng sự thủ giữ lại đóng khung chúng ta lại trong một định kiến hẹp hòi và một hình mẫu hay ý tưởng lỗi thời khiến cho những phản ứng của cái bản ngã đó chỉ đem đến đau khổ, bức xúc vì thiếu hoà hợp với hoàn cảnh mới và không bắt kịp sự vận hành không ngừng của thế giới khách quan. Thực ra cái thế giới chủ quan (bản ngã) cũng vận động và biến hoá không ngừng, nhưng khuynh hướng thủ giữ lại cố từ chối, cố chống lại, cố điều khiển và thao túng những thay đổi đó, và chính cái ý chí chủ quan này là nguyên nhân của hầu hết những xung đột, đau khổ và tang thương trong đời.
Tại sao con người lại có khuynh hướng thủ giữ và tạo lập bản ngã? Đức Phật nói đó là vì vô minh. Vô minh là một thuật ngữ Phật học để chỉ cho sự thiếu hiểu biết (ignorance) hay sự hiểu biết không đầy đủ (incomplete knowledge) và sự nhận thức bị bóp méo vì cảm quan cá nhân (vipallasa in Pāḷi, and parikalpita in Sanskrit). Trên phương diện tâm lý, thủ giữ là một phản ứng có khuynh hướng tự duy trì nhân diện (identity) của bản thân. Không có một nhân diện, người ta sợ hãi và bất an (vì nhận thức) rằng mình không là ai cả, không là gì cả, là con số không. Bấp bênh và lo lắng, người ta sẵn sàng bám víu vào bất cứ một cái gì, dù chỉ là tạm thời, cho họ cảm giác mình đang tồn tại, đang hiện diện và phải được công nhận. Niềm khát khao được nhận ra, được chú ý và được quan tâm, được kính trọng khiến người ta phải tự tạo cho mình một nhân cách, một cá tính để khẳng định sự tồn tại độc lập và đặc biệt của mình. Thực ra thì hình thành hay duy trì một nhân cách hay một cá tính không có gì là sai trái cả, nhưng sự chấp chặt vào những ý kiến chủ quan và những phản ứng cảm tính mới làm thành vấn đề.
Đây là một xu hướng tâm lý khá tự nhiên và cực kỳ phổ biến đến nỗi không ai tự hỏi nó có cần thiết hay không. Chính vì nó được xem là ‘tự nhiên’ nên người ta không cưỡng lại sự thôi thúc có tính bản năng này, hay tệ hơn nữa là tìm mọi cách để ‘vật chất hoá’ những ý tưởng về mình. Khi những ý muốn này được chấp nhận trong điều kiện thực tế, người ta cảm thấy an tâm và tự tin hơn, chúng ta gọi họ là những kẻ thành đạt và hạnh phúc trong cuộc đời. Nhưng khi những ý muốn đó không gặp gỡ với thực tế cuộc sống (điều kiện bản thân- gia đình, điều kiện kinh tế, điều kiện văn hoá và xã hội ,vv) thì thường có hai khả năng xẩy ra: nó tự động biến đổi, ngụỵ trang để dễ chấp nhận hơn (defense mechanism), hoặc nó sẽ chán nản, thất chí và đơn phương tuyệt vọng chống lại toàn thế giới! (destructive behavious). Cả hai khả năng này đều là khổ đau, bất hạnh dù được dấu diếm che đậy hay lộ liễu một cách bất cần.
Trở lại với vấn đề vô ngã -vị tha, chỉ khi nhận thức rõ cả hai khía cạnh của bản ngã: tính chất giả tạo và tạm thời của nó, và những đau khổ- xung đột mà trong quá trình tạo lập và duy trì nó chúng ta phải trải qua, người ta mới bắt đầu xem xét lại và nghi ngờ về tính đích thực của những gì vừa trải nghiệm. Người ta thôi chụp bắt và thủ giữ, người ta buông bỏ những giá trị đã bị đóng khung và giới hạn vì thành kiến và định kiến. Người ta không còn bị đẩy tới vì những thúc dục như ‘phải chứng tỏ’, ‘phải hiện diện’, ‘phải cho thấy’, ‘phải chứng minh’, ‘phải đạt được’, vv. Chỉ những hành động không bị chi phối bởi tham, sân, si thì mới gọi là vô ngã, không vị kỷ, không chấp thủ. Một hành động vị tha thực sự phải xuất phát từ trí tuệ và lòng bi mẫn. Trong phần kế tiếp chúng ta sẽ bàn tiếp về vấn đề này.
Last revised on 1st Nov. 2006.
BCC. Dehiwala, Sri Lanka.
Như một câu cửa miệng, nhiều người nói Đạo Phật là đạo của vô ngã - vị tha, nôm na hiểu là quên mình giúp người. Ngược lại, Thiên chúa giáo lại chỉ trích ĐẠO PHẬT là thiếu tính xã hội và thiếu tinh thần phục vụ, chỉ lo tích đức, tăng phước hay giải thoát cho cá nhân mà thôi. Về một mặt nào đó, quả là đã có những người hay nhóm người hiểu không chính xác, thực hành sai và giảng dạy thiên lệch về tinh thần Giác ngộ và Siêu thế trong ĐẠO PHẬT khiến cho những lời phê bình trên là không hoàn toàn vô căn cứ.
Đức Phật có dạy quên mình giúp người không? Câu trả lời là khẳng định! Trong các câu chuyện Tiền thân (Jataka stories) khi đề cập đến Bố Thí Ba La Mật (dāna paramī), Bồ Tát đã hy sinh không chỉ tài sản (tài thí- cấp độ thứ nhất của hạnh bố thí hay xả bỏ) mà ngài còn cho đi từng phần của thân thể hay cả tính mạng của chính mình nữa để cứu giúp tha nhân khi cần thiết. Chỉ riêng hạnh Ba La Mật này cũng đã thể hiện đầy đủ tinh thần Bi – Trí - Dũng nếu nó được thực hành một cách đúng đắn. Thấy tha nhân đau khổ, thiếu thốn, hành giả chia sẻ những gì mình có để giảm thiểu nỗi khổ của người khác - đây chính là Bi. Bi khi đi với Trí thì không luỵ, ngược lại, Bi mà thiếu Trí thì rất dễ bị luỵ, nghĩa là giúp người không hữu hiệu mà còn mang phiền toái hệ luỵ đến mình. Như người không biết bơi hay bơi chưa giỏi mà lao xuống sông cứu người chết đuối thì kết quả là cả hai cùng chết chìm. Nhưng từ sự hiểu rõ tình huống và muốn giúp, và nỗ lực đúng cách để giúp khi cần thiết thì đó chính là Bi - Trí - Dũng. Tại sao sư lại dùng từ ‘cần thiết’? Vì trong một số tình huống, sự giúp đỡ chỉ làm xấu thêm tình hình: như tiếp tay cho kẻ trộm, tham ô, móc ngoặc chẳng hạn; hay o bế người ta quá khiến kẻ đó trở nên lệ thuộc, ỷ lại, mất đi tính độc lập và tự tin vào khả năng vươn lên của mình thì cũng không nên.
Trong Tăng Chi Bộ Kinh (Anguttara Nikāya) có liệt kê về bốn hạng người thiết nghĩ cũng nên biết đến ở đây. Gì là bốn hạng người đã được đề cập? Hạng người thứ nhất thì “sống như đã chết” nghĩa là không đem đến lợi ích cho ai cả, buông trôi ngay cả chính cuộc đời mình. Đây là loại người không có một định hướng nào trong cuộc sống , (maladjudgement and inadequate). Hạng người thứ hai thì chỉ lo cho lợi ích của người khác mà không mấy quan tâm đến lợi ích của chính mình. Những người kiểu này thường bị chế giễu là “ăn cơm nhà vác ngà voi” trong dân gian vì họ quá năng nổ trong các công việc xã hội mà lại quên đi bổn phận với chính mình và gia đình mình. Hạng người thứ ba thì lại chỉ chăm chăm vào lợi ích của chính mình mà không quan tâm đến lợi ích của người khác. Những người như vậy thì hay bị chỉ trích là ích kỷ và thủ phận. Những chỉ trích này có xác đáng hay không chúng ta sẽ thấy trong phần sau. Hạng người thứ tư thì làm việc vì lợi ích của chính mình và đem lợi ích đến cho những người khác nữa. Các vĩ nhân nhân trên thế giới là những người có nhân cách, trí tuệ và tinh thần phục vụ tuyệt vời này.
Trong bốn hạng người kể trên, Đức Phật nói rằng hạng người thứ tư là tuyệt vời nhất, đáng ca ngợi và khâm khục nhất. Điều này thật dễ thấy, trong bất cứ cộng đồng hay xã hội nào, hạng người năng động, sáng tạo và đầy thiện chí như vậy cũng được tán dương. Nhưng hạng người tốt kế tiếp trong thước đo của Bậc Giác ngộ lại không như chúng ta thường nghĩ một cách hời hợt. Người biết làm việc vì lợi ích của chính mình, dù không mấy bận tâm đến thiên hạ ra sao, lại được xếp vào hạng người tốt thứ hai, hơn cả người chỉ lo cho người khác mà không tự làm lợi ích cho mình. Hạng người tồi nhất là không lợi ích cho ai cả, điều này thì quá hiển nhiên không cần thiết phải giải thích. Trong bài pháp đó, Đức Phật cũng giải thích thế nào là làm lợi ích cho mình và làm lợi ích cho người. Người sống có nguyên tắc, tự chủ và điềm tĩnh, luôn tinh tấn trong các thiện pháp dẫn đến hạnh phúc tối thượng (Niết bàn, nơi vắng bóng tham, sân, si, trạng thái đã đoạn tận mọi khổ luỵ) thì được gọi là người sống vì lợi ích của chính mình. Người tự mình thực hành những pháp thiện xảo như vậy, lại dạy bảo, nâng đỡ người khác để họ cùng sống đời sống chuẩn mực và hữu ích thì được gọi là người đem lợi ích đến cho mình và cho tha nhân. Người chỉ dạy người khác sống tốt mà tự mình không thực hành những điều đã dạy người thì gọi là người không biết sống cho lợi ích của chính mình.
Như vậy, rõ ràng chữ ‘vị tha’ ở đây là rất thực tế, nó không chỉ là thiện ý, mà còn là thực lực và phương pháp nữa. Bạn chỉ có thể cho những gì bạn có, bạn không thể cho những gì mình không có. Chỉ khi bạn vừa có thực lực, vừa có thiện ý thì mới có thể làm từ thiện. Nếu bạn không có gì cả ngoại trừ một đống khổ đau, bối rối và mất phương hướng trong cuộc đời thì bạn cũng không thể giúp được ai, dù bạn yêu thương người ta đến đâu đi nữa thì cũng chỉ là những ý tưởng hão huyền không thực tế. Khi bạn đang buồn bực, phiền muộn, làm sao bạn có thể cho người khác hạnh phúc an vui? Bầu không khí quanh người phiền muộn lo âu hay giận dữ cũng bị ảnh hưởng cái nóng nảy bức xúc của một vài cá nhân đang có tâm trạng không vui. Và nó có thể trở thành một phản ứng dây chuyền dẫn tới một cuộc bạo động hay nổi loạn. Ngược lại, khi bạn đang vui vẻ hạnh phúc, dù bạn không có tác ý ‘cho người’ cái tâm trạng hạnh phúc đó thì những người thấy bạn cũng cảm nhận được cái tinh thần phấn chấn của bạn. Và như vậy là bạn đã ‘cho’ cái nguồn sinh lực tích cực đó rồi. Do vậy hãy làm sao cho chính bạn được hạnh phúc an vui, rồi bạn mới có thể cho người niềm hạnh phúc an vui. Nếu bạn vừa có thiện ý, vừa có khả năng và phương tiện thiện xảo nữa thì thật tuyệt vời.
Trong một bối cảnh khác Đức Phật lại khuyến khích chúng ta hãy phát tâm từ bi vô lượng đến tất cả chúng sinh: dù lớn hay bé, dù thấp hay cao, dù sang hay hèn, dù gần hay xa, dù thấy được hay không thấy được. Hãy đối xử với mọi người bằng tình của một người mẹ luôn yêu thương và hy sinh cho đứa con duy nhất của mình. Hãy duy trì tình thương cao cả và quên mình này trong mọi lúc, mọi nơi, từ lúc mở mắt chào một ngày mới cho đến khi rơi vào giấc ngủ an lành. Đừng bao giờ ôm ấp những tâm niệm sân si hờn oán và mong người gặp khổ đau hoạn nạn. Đừng dối lừa người dù chỉ là một lời hứa suông. Hãy thương và ôm trọn vào lòng ngay cả những khiếm khuyết và bất toàn của mình và tha nhân. Tình thương và sự cảm thông sẽ hoá giải và chuyển biến những năng lực hay phẩm chất tiêu cực, vô dụng, hay thậm chí độc hại thành hữu ích, tích cực và tốt lành.
Thương những gì dễ thương thì thật dễ, bất cứ một người bình thường nào cũng có thể làm được; nhưng thương những gì khó thương, những trái ý nghịch lòng, những cừu thù oán hận thì không phải là dễ. Tâm chúng ta quen phân biệt xấu-tốt, được-mất, hay-dở, thích–không thích, thân– không thân, bạn–thù vv. Những phân biệt chia chẻ nhị nguyên này thường là điểm xuất phát của nhiều thứ phiền não khác như ích kỷ, ganh tỵ, thiên vị, thiếu bao dung hay đố kỵ, hiềm hận… Biết chăng những giá trị mà chúng ta gán cho đối tượng thì rất chủ quan, phiến diện và thường bị ảnh hưởng bởi cảm tính nên chúng không phải là những thước đo đáng tin cậy. Ý thức được điều này, người thiện trí không để cho những cảm tính chủ quan dẫn đến những tình cảm thiên vị hay đố kỵ, không phản ứng hay cư xử một cách hấp tấp, bốc đồng (react impulsively). Người thực hành rốt ráo những gì Phật dạy thì không xem ai là kẻ thù, nhìn tất cả chúng sanh bằng cái tâm bao dung, cởi mở và bình đẳng không phân biệt. Đây mới đích thực là tinh thần vô ngã của Đạo Phật.
Vô ngã không phải là xả mình hay quên mình cho một mục đích nào đó (cho người thân yêu, cho chủ nghĩa- lý tưởng mà mình tôn thờ, cho đất nước hay tôn giáo… - chúng ta sẽ bàn thêm ở phần sau - chúng chỉ là những giá trị mở rộng của bản ngã), mà vô ngã là không chấp thủ, vô phân biệt, bình đẳng và trung dung trước mọi cao-thấp, tốt -xấu, hơn–thua, được-mất, và thị phi của cuộc đời. Vô ngã không phải là quên mình, mà là biết mình, biết người nhưng không chấp thủ vì thấy được sự vận hành không ngừng của vạn pháp trong đó có cả những gì cấu trúc nên mỗi cá nhân. Sự vận hành đó có tính tương quan nhân duyên, khi những yếu tố như vậy, hoàn cảnh như vậy cùng xuất hiện thì hiện tượng như vậy sinh khởi, khi những yếu tố, điều kiện thay đổi thì sự vật, con người và các hiện tượng cũng thay đổi. Thấy được những thay đổi, vận động, hình thành và tan rã không ngừng trong mọi hiện hữu, chúng ta sẽ thôi chấp thủ vào một giá trị bất biến hay một bản ngã thường hằng đang tồn tại trong ta (ātman) hay ngoài tầm nhận thức của chúng ta (Thượng Đế - God or Brahma).
Đức Phật không cho rằng có một soạn giả hay đạo diễn nào đằng sau những vở kịch cuộc đời này. Nó là một sự vận hành theo các qui luật vô ngã, hay nói theo ngôn ngữ thông thường, chúng là những qui luật tự nhiên có tính tương tác và chi phối lẫn nhau trong một sự vận động không ngừng. Nói như vậy không có nghĩa là mọi chuyện xẩy ra một cách ngẫu nhiên và tuỳ hứng, và chúng ta không phải chịu trách nhiệm cho chính cuộc đời mình. Thật ra phản ứng của chúng ta, cái phản ứng xuất phát từ khuynh hướng từ chối và thủ giữ của bản ngã chấp thủ quyết định phẩm chất của những kinh nghiệm mà chúng ta đã đi qua, đang là và sẽ gặp trong cuộc đời. Cái bản ngã mà chúng ta tự tạo nên như một vỏ bọc để tồn tại, để chống lại những gì khiến chúng ta đau khổ, bất mãn vốn không thực. Do nhân duyên, hoàn cảnh, chúng đã được tạo nên và chúng có những giá trị đối trị nhất thời nhưng nếu chúng ta thủ giữ vào những hình mẫu giả tạo và lỗi thời này, chúng ta sẽ không bắt kịp nhịp độ vận hành tự nhiên của vạn pháp trong đó những gì cấu thành nên một nhân cách, một cá tính cũng đã thay đổi. Sự thủ giữ tất yếu sẽ dẫn đến xung đột ngay bên trong cá nhân đó cũng như xung đột trong các mối quan hệ của cá nhân đó với môi trường xung quanh.
Vì chúng ta chấp thủ cái thân này (sắc uẩn) là ta nên mới o bế, chiều chuộng và thoả mãn mọi đòi hỏi của nó. Nếu ai động đến nó, chúng ta cảm thấy bị tổn thương và căm hận tìm cách trả đũa. Vì xem thân là ta nên mới tránh lao tổn tấm thân đó vì người, người chấp thân là ta thì thường rất ích kỷ và không phục vụ ai cả, chỉ lo giữ lấy tấm thân lành lặn. Vì chấp thân là ta nên khi nó khỏe mạnh thì chúng ta hạnh phúc hồ hởi, khi nó bệnh hoạn đau ốm thì chúng ta sầu muộn lo âu, than thân trách phận. Khi thân đẹp đẽ trẻ trung thì kẻ đồng hoá với thân đó tự kiêu, ngã mạn; khi thân đó xấu xí, bệnh hoạn, và già nua thì người ta mặc cảm tự ti. Chấp thủ vào thân thể hay vật chất thì mọi thay đổi, biến động từ chúng đều làm chúng ta bất an và lo lắng. Chấp thủ vào thân thể, vật chất, tài sản,.. là cấp độ thô thiển nhất (và cũng phổ biến nhất) của ngã chấp. Trong thuật ngữ Phật học, chúng được gọi là thân kiến (sakkayaditthi). Kế đến là chấp thủ vào cảm thọ, nhận thức (thọ uẩn và tưởng uẩn), như chúng ta đã đề cập sơ qua ở phần trên, đó là cái tâm phân biệt, đánh giá và phản ứng hấp tấp vội vàng. Từ những cảm nhận, đánh giá và phản ứng đó khiến sanh ra những tâm trạng vui -buồn, yêu ghét, vv (hành uẩn). Và những chất liệu vừa kể trên được tích trữ và làm nền cho những phản ứng mới một cách có ý thức hay bị điều động bởi vô thức (bao gồm trong thức uẩn) .
Khi có sự chấp thủ, nghĩa là có sự nắm bắt, sở hữu và giới hạn, vô hình chung chúng ta tự khoá mình, tự điều kiện hoá và giới hạn những cảm giác, nhận thức và thái độ hay phản ứng của chúng ta trong một cái khung nhất định gọi là bản ngã. Cái bản ngã đó đã được hình thành do nhiều yếu tố như gia đình, xã hội, những điều kiện thiên nhiên, văn hoá, giáo dục, lịch sử, và vv. Như đã bàn ở trên, những yếu tố, điều kiện đó vốn không ngừng thay đổi, nhưng sự thủ giữ lại đóng khung chúng ta lại trong một định kiến hẹp hòi và một hình mẫu hay ý tưởng lỗi thời khiến cho những phản ứng của cái bản ngã đó chỉ đem đến đau khổ, bức xúc vì thiếu hoà hợp với hoàn cảnh mới và không bắt kịp sự vận hành không ngừng của thế giới khách quan. Thực ra cái thế giới chủ quan (bản ngã) cũng vận động và biến hoá không ngừng, nhưng khuynh hướng thủ giữ lại cố từ chối, cố chống lại, cố điều khiển và thao túng những thay đổi đó, và chính cái ý chí chủ quan này là nguyên nhân của hầu hết những xung đột, đau khổ và tang thương trong đời.
Tại sao con người lại có khuynh hướng thủ giữ và tạo lập bản ngã? Đức Phật nói đó là vì vô minh. Vô minh là một thuật ngữ Phật học để chỉ cho sự thiếu hiểu biết (ignorance) hay sự hiểu biết không đầy đủ (incomplete knowledge) và sự nhận thức bị bóp méo vì cảm quan cá nhân (vipallasa in Pāḷi, and parikalpita in Sanskrit). Trên phương diện tâm lý, thủ giữ là một phản ứng có khuynh hướng tự duy trì nhân diện (identity) của bản thân. Không có một nhân diện, người ta sợ hãi và bất an (vì nhận thức) rằng mình không là ai cả, không là gì cả, là con số không. Bấp bênh và lo lắng, người ta sẵn sàng bám víu vào bất cứ một cái gì, dù chỉ là tạm thời, cho họ cảm giác mình đang tồn tại, đang hiện diện và phải được công nhận. Niềm khát khao được nhận ra, được chú ý và được quan tâm, được kính trọng khiến người ta phải tự tạo cho mình một nhân cách, một cá tính để khẳng định sự tồn tại độc lập và đặc biệt của mình. Thực ra thì hình thành hay duy trì một nhân cách hay một cá tính không có gì là sai trái cả, nhưng sự chấp chặt vào những ý kiến chủ quan và những phản ứng cảm tính mới làm thành vấn đề.
Đây là một xu hướng tâm lý khá tự nhiên và cực kỳ phổ biến đến nỗi không ai tự hỏi nó có cần thiết hay không. Chính vì nó được xem là ‘tự nhiên’ nên người ta không cưỡng lại sự thôi thúc có tính bản năng này, hay tệ hơn nữa là tìm mọi cách để ‘vật chất hoá’ những ý tưởng về mình. Khi những ý muốn này được chấp nhận trong điều kiện thực tế, người ta cảm thấy an tâm và tự tin hơn, chúng ta gọi họ là những kẻ thành đạt và hạnh phúc trong cuộc đời. Nhưng khi những ý muốn đó không gặp gỡ với thực tế cuộc sống (điều kiện bản thân- gia đình, điều kiện kinh tế, điều kiện văn hoá và xã hội ,vv) thì thường có hai khả năng xẩy ra: nó tự động biến đổi, ngụỵ trang để dễ chấp nhận hơn (defense mechanism), hoặc nó sẽ chán nản, thất chí và đơn phương tuyệt vọng chống lại toàn thế giới! (destructive behavious). Cả hai khả năng này đều là khổ đau, bất hạnh dù được dấu diếm che đậy hay lộ liễu một cách bất cần.
Trở lại với vấn đề vô ngã -vị tha, chỉ khi nhận thức rõ cả hai khía cạnh của bản ngã: tính chất giả tạo và tạm thời của nó, và những đau khổ- xung đột mà trong quá trình tạo lập và duy trì nó chúng ta phải trải qua, người ta mới bắt đầu xem xét lại và nghi ngờ về tính đích thực của những gì vừa trải nghiệm. Người ta thôi chụp bắt và thủ giữ, người ta buông bỏ những giá trị đã bị đóng khung và giới hạn vì thành kiến và định kiến. Người ta không còn bị đẩy tới vì những thúc dục như ‘phải chứng tỏ’, ‘phải hiện diện’, ‘phải cho thấy’, ‘phải chứng minh’, ‘phải đạt được’, vv. Chỉ những hành động không bị chi phối bởi tham, sân, si thì mới gọi là vô ngã, không vị kỷ, không chấp thủ. Một hành động vị tha thực sự phải xuất phát từ trí tuệ và lòng bi mẫn. Trong phần kế tiếp chúng ta sẽ bàn tiếp về vấn đề này.
Last revised on 1st Nov. 2006.
BCC. Dehiwala, Sri Lanka.
Vô Minh Duyên Hành
Đôi khi ta gặp những người rất tệ hại, nhưng ngay cả những người không được tốt đó vẫn thích được khen ngợi là tốt đẹp, cao thượng, dễ thương, vv, và căm tức, công phẫn khi bị chỉ trích. Những người rất xấu vẫn thích đẹp và mong muốn mình xinh đẹp hơn, hay ít nhất là cũng được khen đẹp ở một khía cạnh nào đó. Phải chăng những người tệ hại xấu xa trong thâm tâm vẫn thích cái tốt đẹp, thích được tán thưởng, thích được chú ý đến? Có một qui luật chung, đó là ai cũng muốn được yêu thương, quí trọng và được chú ý đến. Nhưng có bao nhiêu người biết rằng người khác cũng như ta vậy, có một tự ngã và muốn được đánh giá đúng mức? Và muốn được người yêu, hãy yêu người, muốn được người kính, hãy kính người, muốn được quan tâm, hãy quan tâm đến người khác. Nhưng cũng có những người thiển cận đến nỗi không thấy được những nguyên tắc rất căn bản này, và luôn bị thúc đẩy bởi tham - sân – si, những năng lực không lương thiện khiến họ nói năng hành động và cư xử một cách thô lỗ, tồi tệ đến mức mọi người đều muốn tránh xa. Đó chính là từng cấp thấp nhất của vô minh, sự ngu muội và thiếu hiểu biết, thiếu trí tuệ phán đoán và thiếu kỹ xảo trong những tình huống thực tế. Tất cả các hành động xuất phát từ bản ngã, dù trực tiếp hay gián tiếp như trên đều được gọi là vô minh duyên hành.
1. Những cấp độ khác nhau của vô minh và hệ quả của chúng
Ở cấp độ thô thiển nhất, vô minh là sự ngu muội không biết đâu là tốt, đâu là xấu, đâu là hữu ích, đâu là bất lợi. Những con bạc, những kẻ trộm cướp lưu manh, những kẻ giết người, hay tra tấn hành hạ người, hành hạ súc vật, chim, cá, (chúng sanh hữu tình), những kẻ tà gian, dâm dật vô độ, vv, đều bị khống chế, dẫn dắt bởi cấp độ thô thiển này của vô minh. Vì nghĩ rằng nó có thể tìm được lạc thú, hay thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn một cách nhanh chóng bằng những hành động bất thiện, trái pháp luật, đáng bị chỉ trích công kích bởi đại chúng và những người có trí. Những kẻ ngu muội này lầm tưởng rằng nó có thể thoát khỏi hậu quả xấu của những hành động tồi tệ của chúng nên những chúng sanh lầm lạc này cứ làm tới mà không cảm thấy sợ hãi hay hổ thẹn bởi những hành động bất chính của chúng. Trong thuật ngữ Phật học, đây gọi là vô minh làm duyên cho bất thiện hành (avijja paccayā abhuññābhisankhārā).
Những hành động như thế nào thì gọi là bất thiện hành? Bất thiện hành hay những hành động bất chính cũng có những cấp độ khác nhau, từ dễ thấy, lộ liễu và trơ trẽn đến tinh vi khéo léo và xảo quyệt. Hầu hết mọi người bình thường trong xã hội đều thấy trộm cướp, giết người, đồ tể hay đàng điếm, bài bạc, nghiện ngập, chửi bới tục tĩu, hay điêu ngoa dối trá là xấu ác, bất thiện và đáng bị nguyền rủa, đáng bị trừng phạt trong mọi xã hội từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây. Nhưng vì sao chúng sanh lại ngu muội, nghĩ xấu, nói xấu và làm xấu như vậy?
Khi một con bạc tìm đến sòng bạc thường là do tham lam, muốn có tiền một cách dễ dàng nhanh chóng. Thậm chí nó nghĩ rằng đó là cách kiếm tiền dễ dàng, nhanh chóng và…công bằng nữa! Nó tin rằng nó thông minh khôn khéo và lọc lừa hơn đối thủ và sẽ vớ được một khoản tiền béo bở trong đêm. Đối thủ của nó cũng nghĩ như vậy, và hầu hết những con bạc trong sòng bạc đều có ý nghĩ tương tự. Trong sòng bạc thường chỉ một vài người thắng bạc, còn lại là thua nhưng mọi người đều không mất hy vọng. Hope against hope, những kẻ bài bạc bị thúc đẩy, cắn xé và lao tới với tia hy vọng khi thì mãnh liệt, khi thì mong manh, rằng nó sẽ gỡ hoà hay thắng trong ván kế tiếp. Và những con bạc vẫn tham lam một cách lì lợm ngồi đó. Thứ năng lượng nuôi dưỡng nó lúc này là tham lam và giận dữ, cay cú khi nó thua, hể hả đắc thắng khi nó được. Cho dù thua bạc hay thắng bạc thì những con bạc đều bị thiêu đốt, thôi thúc bởi những tình cảm mãnh liệt mà trong tâm lý học Phật Giáo gọi là bất thịện tâm. Những bất thiện tâm này xuất phát từ vô minh, hay nói bằng ngôn ngữ bình dân, đó là sự ngu muội, sự thiếu hiểu biết và khả năng nhìn nhận, suy tư một cách đúng đắn.
Vì chúng sanh không tin vào nhân quả thiện ác, chúng không biết hoặc không tin rằng những hành động bất chính sẽ mang lại những hậu quả tai hại ngay trước mắt cũng như trong lâu dài. Khi tức giận người ta có thể đánh đập người hay đánh đập, gây thương tích trên cơ thể và tâm hồn kẻ mà họ căm ghét (cho bõ ghét!) Khi tham lam, người xấu có thể giết người cướp của hay lừa đảo, mưu mẹo để đạt lấy của người, hay trộm cắp tinh vi, hay gian dối lang chạ, hay bài bạc rượụ chè. Cũng có khi người ta đến sòng bạc hay quán rượu chỉ để tìm quên những đau khổ khó khăn mà họ không thể đối mặt để giải quyết. Những lạc thú tạm thời do những hành động bất chính kể trên đem lại có thể làm cho kẻ lầm lạc cảm thấy thoả mãn nhất thời và hắn có thể tiếp tục làm ác, hay thúc đẩy khuyến khích kẻ khác làm ác. Những kẻ ngu muội và thiển cận này không biết rằng giết người hay đánh người thì sớm hay muộn gì cũng bị người giết lại hay đánh lại. “Hại nhân nhân hại sự này tại đâu”
Những kẻ trộm cướp gian dối hay lừa đảo thì có thể hưởng thụ những thứ mà chúng đã đạt được một cách bất chính chừng nào mà hành động của chúng chưa bị phát giác. Điều gì sẽ xẩy ra khi chúng bị phát hiện? Bị tù đày, bị khảo tra, bị kết án, bị trả thù, bị khinh chê, bị xa lánh, bị tịch thu tài sản… Ngay cả khi chưa bị phát hiện, những kẻ lầm lạc này cũng không được sống hoàn toàn yên ổn. Chúng lo lắng và sợ hãi những hành động bất chính của chúng có thể bị phát hiện, chúng tìm mọi cách để che đậy, lấp liếm những tội đã phạm phải. Có khi để che đậy tội ác đã làm chúng phạm thêm những tội ác mới, để chứng tỏ gian dối là thật, chúng phải gian dối nhiều hơn nữa, và trong vòng luẩn quẩn này chúng cứ trôi lăn, từ sự mù quáng này đến sự mù quáng khác. Trong trường hợp này họ là những chúng sanh được gọi là đi từ bóng tối vào bóng tối.
Đến một lúc nào đó, nghĩ ác, nói ác, làm ác trở thành một thói quen gần như không thể nào sửa đổi. Những chúng sanh tội nghiệp này được gọi là incorrigible trong tiếng Anh, nghĩa là đã quá hư hỏng đồi bại, không thể bỏ qua hay tha thứ. Một số những chúng sanh loại này nhận lãnh án tử hình hay chung thân, khổ sai trong một xã hội có pháp luật nghiêm minh, rõ ràng. Một số khác do nghiệp quả chưa chín mùi, tạm thời thoát khỏi pháp luật thì cũng thường bị chê bai, nguyền rủa. Có chăng chỉ có những kẻ xu nịnh xấu xa tuyên dương họ khi họ còn có quyền lực và tiền bạc. Những kẻ này khi ác nghiệp chưa chín mùi, chưa trổ quả khổ đau đôi khi còn dương dương tự đắc, vỗ ngực ca tụng xấu ác một cách trơ trẽn, tuyên bố rằng không có nhân quả nghiệp báo gì cả. Chúng có thể nói rằng đạo đức, nhân quả nghiệp báo và sự thánh thiện chỉ là những giáo lý nhảm nhí vô căn cứ, và không chứng minh được trong một thế giới nhiễu nhương đầy cám dỗ bởi vật chất và lạc thú, trong một thế giới mà sống gấp, sống vội kiểu ‘mì ăn liền’ thường được quảng cáo và tán dương khắp nơi. Ở đây, những hành động không lương thiện được dẫn dắt bởi tà kiến.
Những người cờ bạc và tửu quán không phải do tham lam, nhưng để tìm quên những khổ đau thầm kín (mà họ không dám đối mặt giải quyết) cũng chỉ là một giải pháp tai hại chỉ có những kẻ thiếu suy nghĩ mới làm. Vì rằng cờ bạc tửu điếm không những không giúp người đó thoát khỏi tình cảnh đang vướng mắc, mà còn tạo thêm nhiều rắc rối khác như khánh kiệt tài sản, trở nên nghiện ngập, vướng bệnh xã hội, vv. Và như vậy những kẻ yếu đuối này càng ngày càng lún sâu vào con đường truỵ lạc và tội lỗi. Đoạn cuối của những chúng sanh tội nghiệp này thường rất bi thảm. Họ là những kẻ uống nước mặn để thoả mãn cơn khát tạm thời, càng uống càng khát thêm, và cuối cùng chết vì bị nhiễm độc. Dạng vô minh này được tâm lý học gọi là ‘hội chứng tự ti mặc cảm’- (inferior complex).
Ở mức độ trung bình, vô minh là sự không thấu hiểu nguyên nhân, gốc rễ của các hành (saṅkhārā, pháp hữu vi, hay pháp được tạo thành, pháp được cấu tạo). Phần nhiều chúng sanh nằm trong cấp độ này của vô minh. Các hành ở đây chỉ cho hai loại hành: thiện hành và ác hành. Thiện hành là hành động, nói năng và suy nghĩ một cách thiện xảo và chín chắn đưa lại lợi ích cho mình, cho người hay cho cả hai. Bất thiện hành là những hành động, nói năng và suy tư thiếu tử tế, thiếu khôn ngoan và không sáng suốt khiến dẫn đến hại mình, hại người, hay hại cả hai. Những người này khi thì làm tốt, nói năng và cư xử khôn ngoan khiến được lợi ích và ca ngợi, nhưng khi khác lại làm xấu, nói năng và cư xử một cách thiếu khôn ngoan tử tế khiến hại mình, hại người.Tuỳ điều kiện hoàn cảnh người đó có vẻ tốt, nhưng trong một điều kiện hoàn cảnh khác lại xấu xa tồi tệ. Do đâu những người này có những hành vi hay cách cư xử bất nhất như vậy? Do họ không có khả năng nhìn nhận và suy tư một cách sáng suốt và sâu sắc. Họ bị ảnh hưởng bởi những người quanh họ, bởi sự tuyên truyền quảng cáo, và bởi vẻ xuất hiện bên ngoài, không thấy được thực chất bên trong.
Trong môi trường tốt và được giáo dục chu đáo, những người này trở thành tốt, đôi khi khả kính và đáng yêu. Nhưng trong môi trường xấu hay trong hoàn cảnh khó khăn, họ sẵn sàng (đôi khi do dự) làm ác, miễn sao tạm thời thoát khỏi tình trạng túng quẫn; họ không nghĩ đến hậu quả xấu có thể đối mặt trong tương lai. Do khi thiện, khi ác, khi xấu khi tốt bất nhất như vậy nên đời sống của những người này là sự đắp đổi giữa hạnh phúc và khổ đau. Trong ngôn ngữ bình dân gọi là “khi lên voi, khi xuống chó”.
Những người này ít nhiều có hiểu biết đâu là tốt, đâu là xấu, những gì đem lại lợi ích và những gì đem lại bất lợi, nhưng họ thường chỉ thấy biết trên bề mặt của vấn đề/ hiện tượng mà không thấy bản chất của vấn đề/ hiện tượng. Họ là những kẻ “theo dòng”, hay gió cuốn chiều nào thì lay theo chiều đó, trôi nổi dật dờ theo trào lưu và xu hướng chung của xã hội. Trong số họ, nếu có đủ thông minh, tài trí và gặp thời thì có thể trở thành những “ngôi sao” hay những nhà lãnh đạo, có khi giàu có và nổi tiếng, thậm chí còn có thể trở thành thần tượng cho đám đông. Nhưng khi được đám đông hoan hô và tán thưởng không bõ cho khi bị nguyền rủa và chà đạp cũng bởi đám đông đó, hay bởi một đám đông khác bất đồng quan điểm, khác niềm tin, đối nghịch.
2. Nguồn gốc và Động lực
Trong tâm lý và triết học Phật Giáo, nguyên nhân hay động lực được chia thành hai nhóm.
(1) Thiện căn (kusalamūla) bao gồm vô tham (không keo kiệt bủn xỉn, không ham muốn nhiều, tri túc hay biết đủ); vô sân (từ hoà và bi mẫn); và vô si (hiểu biết và sáng suốt). Những suy nghĩ, lời nói và hành động bắt nguồn từ một trong ba thiện căn này được gọi là thiện hành (puññābhisankhārā). Thiện hành cũng thường được miêu tả như là bố thí, cúng dường, biết ơn, cung kính, hoà ái, có tấm lòng rộng rãi và bao dung, hay làm từ thiện, ham học hỏi và ưa gần gũi các bậc thiện tri thức, hoan hỷ chỉ bày và giúp đỡ, khuyến khích người cùng làm thiện, trì giữ năm giới và nói chung là hành Thập Thiện, Thiền định, vv.
(2) Bất thiện căn (akusalamūla) bao gồm tham lam, sân hận, và si mê. Những hành vi xuất phát từ những bất thiện căn này được gọi là bất thiện hành (abhuññābhisankhārā). Những bất thiện hành này đã được đề cập đến ở những trang trước.
Hầu hết những hành động xấu ác, phạm pháp và không thiện xảo đều bắt nguồn từ cái tâm bất chính bị vô minh hay si mê dẫn dắt. Nhưng cũng có những hành động tưởng như tốt, có vẻ như từ thiện và khôn khéo nhưng lại chỉ xuất phát từ động lực vụ lợi, nghĩa là tham. Đôi khi người ta làm phước chỉ vì tham lam hay ngã mạn như muốn được khen ngợi là người tốt, muốn được chú ý đến, muốn được quả báo tốt đẹp cho đời này hay đời sau, muốn được sanh lên cõi trời, vv. Đôi khi người ta hô hào cổ vũ người khác làm điều mà họ cho là tốt như hy sinh cho tổ quốc đồng bào, yêu nước hơn yêu thân, vv, nhưng bản thân người hô hào lại không làm như vậy. Hoặc những điều mà họ cho là tốt đẹp thực ra chỉ là kiến chấp có gốc rễ trong si mê và sân hận dẫn dắt người tới kỳ thị, phân biệt và tàn nhẫn. Những nghiệp tạo tác như vậy được gọi là ‘nghiệp lốm đốm’- nghĩa là những hành động có động lực không rõ ràng minh bạch.
Có khi những động lực có vẻ như tốt nhưng lại cho kết quả không tốt đẹp gì. Người ta nói về một xã hội “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, một xã hội không có tư hữu và cạnh tranh nhưng kết quả lại khá bi thảm vì chúng sanh phần lớn lại khá tham lam, lười biếng và vô trách nhiệm. (Tư hữu và cạnh tranh thường bắt nguồn từ tham lam và ngã mạn). Chúng ta đã chứng kiến nền kinh tế tập trung sụp đổ ra sao vì nó gián tiếp tạo ra nạn cửa công cửa quyền, nạn quan liêu, và bao cấp dẫn đến nạn vô trách nhiệm. Chung qui lại tất cả những hiện tượng đó đều bắt nguồn từ một ý tưởng thiếu sáng suốt và thiếu thực tế mặc dù nhìn qua thì ý tưởng đó rất cao thượng và có vẻ logic. Đó chính là vô minh. Mọi ý tưởng đều không nằm ngoài vô minh, dù là Xã hội chủ nghiã (socialist) hay Tư bản chủ nghĩa (capitalist), dù là kinh tế thị trường hay kinh tế tập trung. Một ý tưởng (vô minh) có thể đưa người ta đi xa vạn dặm (hành). Đôi khi có vẻ như thành công, hạnh phúc và thoả mãn. Nhưng rồi thời cuộc đổi thay, những lý tưởng, tiền đồ và sự nghiệp mà ta đã dày công tạo lập bỗng chốc sụp đổ như lâu đài trên cát. Người ta mất phương hướng, người ta tuyệt vọng, người ta thở dài than thân trách phận, hay trở nên bi quan yếm thế, hay cay cú, hoài nghi…
Xã hội loài người đã có những bước tiến bộ khá ngoạn mục. Từ thời đại đồ đá chuyển đến thời đại đồ đồng. Từ đời sống du mục đến đời sống canh tác định cư và đô thị hoá; từ nền kinh tế nông nghiệp đến công nghiệp và thương mại. Cùng với sự phát triển về kinh tế và vật chất, con người cũng có vẻ ngày càng văn minh và cư xử với nhau tử tế hơn chăng? Trong một giai đoạn lịch sử, xã hội loài người đã từng tồn tại chế độ nô lệ. Những người nô lệ thường bị đối xử tàn bạo như súc vật, họ không có quyền gì cả, ngay cả quyền làm người. Thật đáng tiếc, trong xã hội được gọi là văn minh và tiến bộ của chúng ta ngày nay tệ nạn này vẫn còn, có những người chồng, người cha xem vợ con như nô lệ. Trong một số hệ thống tôn giáo và thần quyền, người phụ nữ cũng bị lợi dụng và áp bức bởi những luật lệ và cách cư xử rất thiếu công bằng và phi nhân bản. Những hành động tàn bạo này bắt nguồn từ ý tưởng chủ-tớ, sang-hèn, có quyền lực và không có quyền lực, ông chủ và kẻ làm thuê, tư tưởng trọng nam khinh nữ, vv.
Mọi ý tưởng hay tư tưởng xuất phát từ vô minh, dù mới hình thành hay đã tiêm nhiễm nhiều đời (có tính truyền thống), đều có khả năng đẩy người ta tới hành động bất thiện và phi nhân bản. Mọi tư tưởng hay ý tưởng khiến người ta đối xử tồi tệ với nhau đều bắt nguồn từ vô minh. Ở cấp độ này vô minh là sự thiếu hiểu biết về những chân lý trong đời sống mà thuật ngữ Phật học gọi là Tứ Diệu Đế- bốn sự thực cao quí, và Tam Pháp Ấn- ba dấu hiệu không đổi của mọi hiện hữu. Vì vô minh người ta không thấy rằng bản chất của đời sống vốn không toại nguyện. Vì sao đời sống lại không toại nguyện? Phải chăng Đạo Phật dạy người ta cái nhìn yếm thế bi quan trước cuộc đời?
3. Vô thường
Chúng ta đều thấy rằng có những người đủ tài trí thông minh, may mắn và đủ khả năng tạo dựng hạnh phúc, thành công trong đời họ, như vậy không phải là họ đã có được một cuộc đời toại nguyện ư? Vâng. Chúng ta hoàn toàn có thể đạt được hạnh phúc và ít nhiều những mức độ thoả mãn nào đó trong cuộc sống. Khi nói về Sự Thật của Khổ (dukkha sacca), Đức Phật không phủ nhận hạnh phúc của thế gian, nhưng ngài hướng chúng ta đến một cái nhìn sâu xa hơn, đó là những gì đi kèm với cái mà chúng ta gọi là hạnh phúc và toại nguyện trong đời. Những đổi thay của thiên nhiên, những đổi thay của thời cuộc, những đổi thay của lòng người khiến mọi vật thể, mọi hiện tượng, mọi ý tưởng, mọi tình cảm và mọi mối quan hệ trở nên bấp bênh không bền vững. Khi những đổi thay theo chiều hướng mà ta mong muốn thì hy vọng tăng trưởng, ta nuôi hy vọng và ít nhiều cảm thấy hạnh phúc thoả mãn với đời sống. Khi những sự đổi thay không như ta mong cầu thì ta thất vọng, đau khổ và bất mãn. Nhưng thử hỏi có ai có thể ra lệnh cho thời tiết đừng đổi thay? Có ai không già và không chết? Có ai luôn luôn dịu dàng, lịch lãm, phóng khoáng và hào hiệp như khi đang yêu? Đổi thay chính là qui luật duy nhất không thay đổi, nhưng vì thủ chấp, bám víu và ngu muội chúng ta làm như mọi vật phải theo ý ta, và chúng ta đau khổ vì sự ngốc nghếch này không ít.
4. Khổ và Nguyên nhân của Khổ
Tất cả mọi người đã được sinh ra đều bình đẳng trước đau khổ. Đau khổ là hệ quả của bám níu và thủ chấp vốn không chịu chấp nhận sự đổi thay tất yếu. Khi còn trẻ tuổi ta mong rằng lớn lên ta sẽ như thế này hay như thế kia. Dù rõ rệt hay tiềm ẩn, mỗi người trẻ tuổi đều tự xây một hình mẫu nào đó trong đầu và cố gắng để đạt được, hay gần hơn với thần tượng. Đối diện với thực tế không như ý, nhiều thanh thiếu niên đã bất mãn, mất phương hướng và niềm tin, thậm chí chọn biện pháp tự tử để kết thúc một cuộc đời vô nghĩa. Sự thất vọng và bất mãn có nguồn gốc từ việc bám níu, thủ giữ vào những giá trị, chuẩn mực định sẵn trong đầu những ai thiếu thực tế. Nếu họ đừng xây những lâu đài trên cát, hay ít nhất cũng biết rằng mộng tưởng chỉ là những trò chơi lãng mạn không đi tới đâu, và nếu họ biết quay trở về với những gì chỉ là bình thường của cuộc sống,.. thì có lẽ nhiều bi kịch trong cuộc đời đã không xảy ra.
Đau khổ vì phản ứng một cách thiếu sáng suốt trước những đổi thay bất ngờ có thể gây ra một chuỗi sự kiện đau đầu không kiểm soát được. Chẳng hạn bạn đang lái xe vào giờ cao điểm, nạn kẹt đường đang là chuyện thường ngày trên lộ trình mà bạn phải đi qua. Có ai đó làm một cú rẽ bất ngờ ngay trước mũi xe bạn, bạn chỉ kịp thắng xe vừa đủ tránh tai nạn. trong đầu bạn hình thành những ý nghĩ bực tức và giận dữ. Không kiềm chế được bạn bóp còi inh ỏi, hay thậm chí chửi rủa kẻ đó. Những chiếc xe phía sau cũng mất kiên nhẫn và bóp còi hay tìm cách nhích lên bất chấp luật lệ. Nếu tai nạn xẩy ra, và các tài xế vẫn còn đủ mạnh để xông vào nhau hơn thua, có lẽ một cuộc ẩu đả đã xẩy ra mà hậu quả còn tai hại hơn chỉ là một vụ tai nạn. Đây chỉ là một ví dụ nhỏ trong vô số tình huống bi thảm mà những phản ứng tiêu cực có thể đem lại. Một trong chúng là những cuộc vận động quân sự và những cuộc chiến tranh được mệnh danh là ‘chống khủng bố’ mà chính phủ Mỹ đã khởi xướng nhằm trả đũa cho cuộc khủng bố ngày 11 tháng chín (11 September).
Đau khổ vì những sai lầm đã qua, đau khổ vì những hậu quả tai hại trong hiện tại, đau khổ vì không biết điều gì sẽ đến ngày mai. Và chung qui lại, có bốn điều mà mọi người đều gặp trong cuộc sống, cho dù là ông vua, là hoàng tử, là tổng thống, thủ tướng, bộ trưởng cho đến kẻ đầu đường xó chợ, kẻ ăn mày vất vưởng không nhà cửa thân thích, tất cả đều bình đẳng trước sanh, già, bệnh, chết. Bạn có thể nói: Sanh, già, bệnh, chết là lẽ tự nhiên, hà cớ gì phải bận tâm đến chúng?
Có ai trong chúng ta khi sinh ra không cất tiếng khóc vì bỗng dưng phải tiếp xúc với một môi trường hoàn toàn xa lạ? Đây chỉ mới là điểm khởi đầu cho một đời sống bấp bênh mà không phải lúc nào chúng ta cũng có thể làm chủ tình huống. Ai cũng muốn mình luôn xinh đẹp, khoẻ mạnh, vui tươi và hấp dẫn, nhưng những ước muốn này phần lớn là không được toại nguyện. Có ai trong chúng ta không phải già và chết không? Cho dù chẳng ai muốn già cả, tuổi già vẫn cứ đến, bệnh tật vẫn cứ đến không thèm hỏi ý kiến của chúng ta. Và những gì mình muốn mà không được, không muốn nhưng vẫn phải chấp nhận đều được cho là khổ. Trong cuộc đời, chúng ta phải gặp gỡ và chung sống với những người mà ta không ưa, không thương, không yêu mến, điều này thật không dễ chịu một chút nào; trong khi đó những gì ta thương yêu, trìu mến và thiết tha thì lại phải chia xa, cách trở. Dù không rơi nước mắt thì tim ta cũng đã bao phen nhói đau vì phải rời xa người/vật/ hay nơi chốn mà ta đã từng yêu mến- đây gọi là khổ của sự chia ly. Có những cuộc chia ly chỉ là tạm thời, và dù khổ sở, người ta vẫn nuôi hy vọng gặp lại người/ vật/nơi chốn mình thương yêu, nhưng cũng có những cuộc chia ly vĩnh viễn mà nỗi đau là gần như không thể nào hàn gắn.
Lại có nhưng nỗi đau do thay lòng đổi dạ. Người ta yêu mến không luôn luôn dễ thương, người đó cũng có những cá tính, những đỏng đảnh đồng bóng thất thường. Do đó từ yêu thành ghét, từ thương thành giận, từ bạn thành thù, và ngược lại. Không có gì đứng yên, không có gì là mãi mãi, nhưng vì thủ chấp bám níu vào những ý tưởng ngốc nghếch của mình, ta không đối diện người, vật và cảnh như bản chất đổi thay vốn có trong đó, nên ta phải khổ khi nhận ra sự đổi thay. Những khổ thương, khổ sầu, khổ luyến ái biệt ly, khổ tương tư mòn mỏi, khổ day dứt bi ai, mỗi mỗi những nỗi khổ chồng lên nhau thành một đống khổ!
Đời người chỉ vẻn vẹn trong ngoài một trăm năm. Trong suốt quảng thời gian đó chúng ta đã trải qua bao thăng trầm, bao sự kiện mà phần nhiều là bất như ý muốn. Chúng ta hy vọng rồi thất vọng, hạnh phúc và khổ đau, thành công và thất bại, được khen ngợi, được thương yêu, nhưng cũng nhiều khi bị chê bai, chỉ trích và ghét bỏ. Những bước thăng trầm trong cuộc đời không ai không trải qua dù ít dù nhiều.
Cuộc đời cũng giống như những con sóng: lên rồi xuống, dạt vào bờ tan biến để cho những con sóng khác tràn lên, nhưng chẳng có con sóng nào cứ lên cao mãi mãi mà không có lúc tụt xuống rồi tan biến. Có những con sóng mãnh liệt vỗ vào ghành đá tung bọt trắng xoá, có những con sóng cuồng nộ lao vào bờ, nghiền nát và đập tan mọi lực cản, nhưng cũng có những con sóng chỉ hiền hoà, lăn tăn dịu dàng êm ái vỗ nhẹ vào bờ. Những cuộc đời mà ta đã gặp cũng vậy, nhưng rốt cuộc rồi ai cũng phải chết, những hy vọng rồi thất vọng, những hạnh phúc và khổ đau, những được và mất trong cuộc đời chỉ như phù du ảo hoá. Không nhận biết được điều này, bị mê hoặc bởi ý thích và đam mê, người ta lao vào cuộc đời như lao vào cuộc chiến, cố gắng giành giật hơn thua. Trong chợ đời không ít lúc ta phải chứng kiến cảnh cá lớn nuốt cá bé, cay đắng ta thở dài mặc nhiên công nhận “chân lý thuộc về kẻ mạnh”. Vì ích kỷ và ngã chấp, người ta có thể chà đạp lên nhau để đạt được điều mình muốn. Khi không đạt được điều mình mong muốn hay không thoả mãn với đối tượng mà mình muốn bóc lột, người ta sân hận, tức tối và muốn đập phá, nghiền nát đối tượng. Tất cả những phản ứng này đều không ngoài “vô minh duyên hành” (avijja paccayā saṅkhārā) mà kết cuộc “là tạo dựng một đống khổ đau” (dukkhakkhandhassa samudayo hoti).
Bản chất của cuộc đời là bất toại nguyện. Cho dù chúng sanh có nhận ra điều này hay không thì chân lí này không vì vậy mà thay đổi. Đây không phải là cái nhìn bi quan yếm thế, mà là cái nhìn thực tế và giác tỉnh trước sự thật. Chúng sanh hầu hết đều không thấy biết điều này nên cứ lao vào “cuộc chơi” như những con thiêu thân lao vào bóng đèn. Chỉ khi thấy biết bản chất ảo hoá phù du của “cuộc chơi”, người ta mới lùi lại để nhìn nó từ một góc độ khác, một cái nhìn sâu hơn, xuyên suốt bề mặt của hiện tượng để thấy bản chất và nguyên nhân của những hiện tượng đó. Trong thuật ngữ Phật học gọi thái độ này là nhận chân nguyên nhân của đau khổ và bất toại nguyện- hai mặt của một vấn đề góp phần vào nhận thức ra Tam pháp ấn.
5- Nguyên nhân của Bất Toại Nguyện
Nếu như vô minh dẫn dắt chúng sanh đến hành động tạo tác thiện ác để rồi phải gặt hái, thọ nhận những khổ vui trong cuộc đời, thì ái dục (yêu-ghét, thương-giận, thích-không thích, vv) chính là sợi dây trói buộc, là vòng lưới bủa vây khiến chúng sanh cứ luẩn quẩn trong một vòng xoáy không lối ra gọi là luân hồi.
Vì vô minh, chúng sanh thường phản ứng theo bản năng, tìm cách giành lấy và cố giữ những gì ta thích, những gì khiến ta dễ chịu (lạc thọ). Chúng ta bị thu hút về xu hướng này một cách gần như vô thức, và cũng gần như vô thức, ta phản ứng một cách khó chịu với những gì mà ta không thích, ta tránh xa hay cố gắng đẩy lùi những cảm giác khó chịu (khổ thọ). Chính những phản ứng này khiến ta khổ hơn những diễn biến tự nhiên. Gì gọi là diễn biến tự nhiên? Đổi thay gọi là diễn biến tự nhiên, nhưng ta không muốn thay đổi nên khi thay đổi đến ta tiếc nuối, bất mãn và khó chịu. Những gì ta không thích, ta muốn nó thay đổi, ít nhất là đổi vị trí, đừng phải gần nó nữa, nhưng chúng dường như khư khư bất biến khiến ta buồn bực sân hận nhiều hơn. Thực ra không có gì bất biến cả, nhưng cảm giác của chúng ta vốn chủ quan và cảm tính nên ta thấy thời gian tâm lý. Thuật ngữ Phật học gọi đây là dục ái, hữu ái và phi hữu ái. Tìm kiếm và ngụp lặn, đắm đuối trong dục lạc hưởng thụ gọi là dục ái. Duy trì và tiếp nối, leo thang và cải thiện những hưởng thụ và khoái lạc gọi là hữu ái. Né tránh và xua đuổi, cố gắng dập tắt hay chặn đứng những gì ta không ưu, không muốn gọi là phi hữu ái. Nền tảng của tất cả những hành động và phản ứng kể trên chính là vô minh.
Vô minh trong thuật ngữ Phật học không phải bao giờ cũng dẫn đến bất thiện hành. Ở đây vô minh chính là thấy rằng sinh tử luân hồi là vui, hay nói cách khác chúng sanh không thấy nguy hiểm trong sinh tử, họ đắm nhiễm và thoả thích trong bất cứ cảnh giới nào mà họ đã được sinh ra. Ví dụ như trong cảnh người, một người đàn ông sẽ thấy người đàn bà là hấp dẫn nhất, và ngược lại, người đàn bà cũng thấy người đàn ông là hấp dẫn nhất; nhưng ở trong cảnh thú, ví dụ như con gà trống sẽ thấy con gà mái là hấp dẫn nhất, và ngược lại; những loài thú khác cũng thấy những nhân vật đồng loại với chúng là hấp dẫn, là xinh đẹp nhất. Người viết bỗng nhớ rằng ai đó đã nói rằng đối với con cóc đực thì con cóc cái là sinh vật dễ thương nhất trên thế gian! Có một câu chuyện hài hước kể rằng có một người đàn ông nọ yêu thương một người đàn bà chột mắt, anh ta thấy rằng tất cả các phụ nữ khác trên thế gian đều thừa một mắt! Điều này cũng làm cho vấn đề tự tử vì tình (hay vì tiền, vì danh dự, gì gì đi nữa) trở nên khá dễ hiểu. Trong mắt người trí những trò ngốc nghếch đó thật là vô minh. Vô minh này từ đâu ra?
Vì tâm chúng sanh đã được điều kiện hoá bởi những yếu tố khiến sinh ra trong một hình hài nào đó, trong một cảnh giới nào đó nên chúng không thấy được những gì không thuộc về tầm nhận thức của nó. Ví dụ như một đứa trẻ sinh ra ở nông thôn, suốt thời ấu thơ nó chỉ biết ruộng đồng, cây cỏ, chim muông, v.v, đối với nó những đồ chơi xa xỉ ở thị thành chẳng có ý nghĩa gì cả; và ngược lại, một đứa trẻ sinh ra và lớn lên giữa bốn bức tường xi-măng, được vây bọc bằng những toà nhà cao từng của thành phố thì thường không thấy hứng thú gì giữa cảnh thiên nhiên. Một ví dụ khác là với một người không hiểu biết gì về âm nhạc, gảy đàn cho họ nghe chẳng khác gì đàn khảy tai trâu. Cách thẩm thấu về thức ăn, mùi vị, thẩm mỹ, v.v cũng như vậy.
Chúng ta lệ thuộc vào những thói quen mà chúng ta đã được nuôi dưỡng, vào cách giáo dục mà chúng ta đã thọ nhận, vào môi trường văn hoá mà ta đã lớn lên. Nhân cách và cá tính của con người được hình thành và phát triển tùy thuộc vào những điều kiện như gia đình (cho gene di truyền, cho môi trường tuổi thơ,..), kinh tế – xã hội, văn hoá - nếp sống, vv. Những ‘vật liệu’ thô này điều kiện hóa cái bản ngã được xây dựng do chấp thủ vào chúng, đồng hoá với kinh nghiệm mà cho là ‘của ta’, là ‘ta’. Ta cho là ngon, là đẹp, là thú vị với những gì ta đã quen thuộc, và ngược lại ta cho là dở và có phản ứng nếu những thứ đó xa lạ với ta. Những giá trị mà chúng ta gắn lên các đối tượng chỉ là những giá trị tương đối và hữu hạn, nhưng cái tâm vô minh lại cho rằng chúng là tuyệt đối và vô hạn. Từ sự vô minh này dẫn đến sự bám víu, thủ giữ vào những giá trị đã được xác nhận (bằng cái tâm đã bị điều kiện hoá), và chối từ, đả kích những gì xa lạ hay không thuộc về ‘mode’ của nó. Bị hấp dẫn về những gì được cho là an toàn, dễ chịu, hợp ý,.. hay phản ứng lại những gì không hợp ý, là khó chịu, là không dễ thương,.. là hai mặt của tâm tham ái. Những phản ứng kiểu này có gốc rễ từ vô minh.
Vô minh khiến người ta có những phản ứng cực đoan vì tin tưởng rằng những giá trị mà mình đang nắm giữ là giá trị chuẩn mực duy nhất. Chiến tranh, giết chóc, tàn sát và nhiều hành động bất nhân khác đều có thể tìm thấy nguồn cội trong vô minh. Vô minh và thủ giữ dẫn người ta đến thái độ thiếu khoan hòa, thiếu bao dung và phi nhân bản. Vô minh khiến người ta thấy những giá trị giả danh, tạm bợ và phiến diện mà không thấy được bản chất thực sự của hiện hữu hay không thấy được mối tương quan, tương duyên của các hiện hữu. Ở cấp độ này vô minh được gọi là kiến chấp. Từ sự nhận thức hẹp hòi (do đã bị điều kiện hoá) người ta đi đến chỗ đả phá, hay cưỡng bức, triệt tiêu những gì không đồng quan điểm, không đồng giá trị trong nhận thức của họ. Những cuộc chiến tranh tôn giáo, những xung đột chính trị thường bắt nguồn từ kiến chấp.
Ở một mức độ vi tế hơn, vô minh chính là ngã chấp. Tại sao có những yêu-ghét, thương-thù, thích- không thích? Vì có Ta, có Người. Những gì thuộc về ta thì thương yêu, gần gũi, những gì thuộc về người thì xa lạ, dè bỉu. Chúng ta thường thiên vị cho những gì mà chúng ta thương yêu, và ngược lại, thành kiến với những gì mà chúng ta không ưa. Nhận thức về một cái Ta tồn tại độc lập và tách biệt, đặc biệt với những gì không phải là Ta khiến chúng ta có những yêu ghét và sợ hãi phát sinh từ những yêu ghét đó. Cái ta này muốn được thương yêu, muốn được kính trọng, muốn được quan tâm đến, và nói chung là nó muốn những gì khẳng định sự tồn tại độc nhất vô nhị của nó. Cái ta này không muốn bị chia sẻ, và nó sẵn sàng làm bất cứ điều gì để ngăn chặn điều đó. Cái ta này tìm mọi cách xây những bức tường thành kiên cố mà vật liệu của nó là những cảm giác, những ý tưởng và tình cảm, những mối quan hệ và hoàn cảnh dẫn đến cái hình tượng ‘ta’ trong tâm mỗi người. Chúng ta bám níu vào những hình tượng ‘ảo’ này, tìm mọi cách để bảo vệ và duy trì nó. Chúng ta cảm thấy thương tổn và căm hận khi nó bị xúc phạm. Chúng ta cảm thấy sợ hãi khi nó có nguy cơ tan rã. Chúng ta sợ sự không tồn tại, sự vô nghĩa và sự lãng quên.
Tất cả những hiện tượng kể trên chính là Ái - Thủ - Hữu, nguyên nhân của Sinh trong các mắt xích duyên sinh làm thành vòng quay bất tận của hiện hữu mà chúng ta gọi là cuộc đời. Ái- Thủ- Hữu cũng chính là Hành- tạo tác hay sáng tạo, vẽ vời trên nền tảng của vô minh. Trong Tứ Diệu Đế, vòng quay bất tận này làm thành Khổ Đế - sự thực về khổ và Tập Đế - sự thực về nguyên nhân của khổ trong mắt các bậc thánh. Khi hành giả nhận chân ra chúng, chúng mất đi vẻ thâm u và bí ẩn. Nhưng có gì là cao thượng trong đau khổ và sự hình thành đau khổ? Vâng. Chúng ta sẽ tìm ra vẻ đẹp trong khổ đau và sự mầu nhiệm mà những kinh nghiệm đó có thể thức tỉnh chúng ta trong dòng đời có vẻ như mù loà vô nghĩa này. Phần hai của bài viết này sẽ đề cập đến những giá trị đó dưới tiêu đề Bi- Trí- Dũng và Vô ngã- Vị tha.
1. Những cấp độ khác nhau của vô minh và hệ quả của chúng
Ở cấp độ thô thiển nhất, vô minh là sự ngu muội không biết đâu là tốt, đâu là xấu, đâu là hữu ích, đâu là bất lợi. Những con bạc, những kẻ trộm cướp lưu manh, những kẻ giết người, hay tra tấn hành hạ người, hành hạ súc vật, chim, cá, (chúng sanh hữu tình), những kẻ tà gian, dâm dật vô độ, vv, đều bị khống chế, dẫn dắt bởi cấp độ thô thiển này của vô minh. Vì nghĩ rằng nó có thể tìm được lạc thú, hay thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn một cách nhanh chóng bằng những hành động bất thiện, trái pháp luật, đáng bị chỉ trích công kích bởi đại chúng và những người có trí. Những kẻ ngu muội này lầm tưởng rằng nó có thể thoát khỏi hậu quả xấu của những hành động tồi tệ của chúng nên những chúng sanh lầm lạc này cứ làm tới mà không cảm thấy sợ hãi hay hổ thẹn bởi những hành động bất chính của chúng. Trong thuật ngữ Phật học, đây gọi là vô minh làm duyên cho bất thiện hành (avijja paccayā abhuññābhisankhārā).
Những hành động như thế nào thì gọi là bất thiện hành? Bất thiện hành hay những hành động bất chính cũng có những cấp độ khác nhau, từ dễ thấy, lộ liễu và trơ trẽn đến tinh vi khéo léo và xảo quyệt. Hầu hết mọi người bình thường trong xã hội đều thấy trộm cướp, giết người, đồ tể hay đàng điếm, bài bạc, nghiện ngập, chửi bới tục tĩu, hay điêu ngoa dối trá là xấu ác, bất thiện và đáng bị nguyền rủa, đáng bị trừng phạt trong mọi xã hội từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây. Nhưng vì sao chúng sanh lại ngu muội, nghĩ xấu, nói xấu và làm xấu như vậy?
Khi một con bạc tìm đến sòng bạc thường là do tham lam, muốn có tiền một cách dễ dàng nhanh chóng. Thậm chí nó nghĩ rằng đó là cách kiếm tiền dễ dàng, nhanh chóng và…công bằng nữa! Nó tin rằng nó thông minh khôn khéo và lọc lừa hơn đối thủ và sẽ vớ được một khoản tiền béo bở trong đêm. Đối thủ của nó cũng nghĩ như vậy, và hầu hết những con bạc trong sòng bạc đều có ý nghĩ tương tự. Trong sòng bạc thường chỉ một vài người thắng bạc, còn lại là thua nhưng mọi người đều không mất hy vọng. Hope against hope, những kẻ bài bạc bị thúc đẩy, cắn xé và lao tới với tia hy vọng khi thì mãnh liệt, khi thì mong manh, rằng nó sẽ gỡ hoà hay thắng trong ván kế tiếp. Và những con bạc vẫn tham lam một cách lì lợm ngồi đó. Thứ năng lượng nuôi dưỡng nó lúc này là tham lam và giận dữ, cay cú khi nó thua, hể hả đắc thắng khi nó được. Cho dù thua bạc hay thắng bạc thì những con bạc đều bị thiêu đốt, thôi thúc bởi những tình cảm mãnh liệt mà trong tâm lý học Phật Giáo gọi là bất thịện tâm. Những bất thiện tâm này xuất phát từ vô minh, hay nói bằng ngôn ngữ bình dân, đó là sự ngu muội, sự thiếu hiểu biết và khả năng nhìn nhận, suy tư một cách đúng đắn.
Vì chúng sanh không tin vào nhân quả thiện ác, chúng không biết hoặc không tin rằng những hành động bất chính sẽ mang lại những hậu quả tai hại ngay trước mắt cũng như trong lâu dài. Khi tức giận người ta có thể đánh đập người hay đánh đập, gây thương tích trên cơ thể và tâm hồn kẻ mà họ căm ghét (cho bõ ghét!) Khi tham lam, người xấu có thể giết người cướp của hay lừa đảo, mưu mẹo để đạt lấy của người, hay trộm cắp tinh vi, hay gian dối lang chạ, hay bài bạc rượụ chè. Cũng có khi người ta đến sòng bạc hay quán rượu chỉ để tìm quên những đau khổ khó khăn mà họ không thể đối mặt để giải quyết. Những lạc thú tạm thời do những hành động bất chính kể trên đem lại có thể làm cho kẻ lầm lạc cảm thấy thoả mãn nhất thời và hắn có thể tiếp tục làm ác, hay thúc đẩy khuyến khích kẻ khác làm ác. Những kẻ ngu muội và thiển cận này không biết rằng giết người hay đánh người thì sớm hay muộn gì cũng bị người giết lại hay đánh lại. “Hại nhân nhân hại sự này tại đâu”
Những kẻ trộm cướp gian dối hay lừa đảo thì có thể hưởng thụ những thứ mà chúng đã đạt được một cách bất chính chừng nào mà hành động của chúng chưa bị phát giác. Điều gì sẽ xẩy ra khi chúng bị phát hiện? Bị tù đày, bị khảo tra, bị kết án, bị trả thù, bị khinh chê, bị xa lánh, bị tịch thu tài sản… Ngay cả khi chưa bị phát hiện, những kẻ lầm lạc này cũng không được sống hoàn toàn yên ổn. Chúng lo lắng và sợ hãi những hành động bất chính của chúng có thể bị phát hiện, chúng tìm mọi cách để che đậy, lấp liếm những tội đã phạm phải. Có khi để che đậy tội ác đã làm chúng phạm thêm những tội ác mới, để chứng tỏ gian dối là thật, chúng phải gian dối nhiều hơn nữa, và trong vòng luẩn quẩn này chúng cứ trôi lăn, từ sự mù quáng này đến sự mù quáng khác. Trong trường hợp này họ là những chúng sanh được gọi là đi từ bóng tối vào bóng tối.
Đến một lúc nào đó, nghĩ ác, nói ác, làm ác trở thành một thói quen gần như không thể nào sửa đổi. Những chúng sanh tội nghiệp này được gọi là incorrigible trong tiếng Anh, nghĩa là đã quá hư hỏng đồi bại, không thể bỏ qua hay tha thứ. Một số những chúng sanh loại này nhận lãnh án tử hình hay chung thân, khổ sai trong một xã hội có pháp luật nghiêm minh, rõ ràng. Một số khác do nghiệp quả chưa chín mùi, tạm thời thoát khỏi pháp luật thì cũng thường bị chê bai, nguyền rủa. Có chăng chỉ có những kẻ xu nịnh xấu xa tuyên dương họ khi họ còn có quyền lực và tiền bạc. Những kẻ này khi ác nghiệp chưa chín mùi, chưa trổ quả khổ đau đôi khi còn dương dương tự đắc, vỗ ngực ca tụng xấu ác một cách trơ trẽn, tuyên bố rằng không có nhân quả nghiệp báo gì cả. Chúng có thể nói rằng đạo đức, nhân quả nghiệp báo và sự thánh thiện chỉ là những giáo lý nhảm nhí vô căn cứ, và không chứng minh được trong một thế giới nhiễu nhương đầy cám dỗ bởi vật chất và lạc thú, trong một thế giới mà sống gấp, sống vội kiểu ‘mì ăn liền’ thường được quảng cáo và tán dương khắp nơi. Ở đây, những hành động không lương thiện được dẫn dắt bởi tà kiến.
Những người cờ bạc và tửu quán không phải do tham lam, nhưng để tìm quên những khổ đau thầm kín (mà họ không dám đối mặt giải quyết) cũng chỉ là một giải pháp tai hại chỉ có những kẻ thiếu suy nghĩ mới làm. Vì rằng cờ bạc tửu điếm không những không giúp người đó thoát khỏi tình cảnh đang vướng mắc, mà còn tạo thêm nhiều rắc rối khác như khánh kiệt tài sản, trở nên nghiện ngập, vướng bệnh xã hội, vv. Và như vậy những kẻ yếu đuối này càng ngày càng lún sâu vào con đường truỵ lạc và tội lỗi. Đoạn cuối của những chúng sanh tội nghiệp này thường rất bi thảm. Họ là những kẻ uống nước mặn để thoả mãn cơn khát tạm thời, càng uống càng khát thêm, và cuối cùng chết vì bị nhiễm độc. Dạng vô minh này được tâm lý học gọi là ‘hội chứng tự ti mặc cảm’- (inferior complex).
Ở mức độ trung bình, vô minh là sự không thấu hiểu nguyên nhân, gốc rễ của các hành (saṅkhārā, pháp hữu vi, hay pháp được tạo thành, pháp được cấu tạo). Phần nhiều chúng sanh nằm trong cấp độ này của vô minh. Các hành ở đây chỉ cho hai loại hành: thiện hành và ác hành. Thiện hành là hành động, nói năng và suy nghĩ một cách thiện xảo và chín chắn đưa lại lợi ích cho mình, cho người hay cho cả hai. Bất thiện hành là những hành động, nói năng và suy tư thiếu tử tế, thiếu khôn ngoan và không sáng suốt khiến dẫn đến hại mình, hại người, hay hại cả hai. Những người này khi thì làm tốt, nói năng và cư xử khôn ngoan khiến được lợi ích và ca ngợi, nhưng khi khác lại làm xấu, nói năng và cư xử một cách thiếu khôn ngoan tử tế khiến hại mình, hại người.Tuỳ điều kiện hoàn cảnh người đó có vẻ tốt, nhưng trong một điều kiện hoàn cảnh khác lại xấu xa tồi tệ. Do đâu những người này có những hành vi hay cách cư xử bất nhất như vậy? Do họ không có khả năng nhìn nhận và suy tư một cách sáng suốt và sâu sắc. Họ bị ảnh hưởng bởi những người quanh họ, bởi sự tuyên truyền quảng cáo, và bởi vẻ xuất hiện bên ngoài, không thấy được thực chất bên trong.
Trong môi trường tốt và được giáo dục chu đáo, những người này trở thành tốt, đôi khi khả kính và đáng yêu. Nhưng trong môi trường xấu hay trong hoàn cảnh khó khăn, họ sẵn sàng (đôi khi do dự) làm ác, miễn sao tạm thời thoát khỏi tình trạng túng quẫn; họ không nghĩ đến hậu quả xấu có thể đối mặt trong tương lai. Do khi thiện, khi ác, khi xấu khi tốt bất nhất như vậy nên đời sống của những người này là sự đắp đổi giữa hạnh phúc và khổ đau. Trong ngôn ngữ bình dân gọi là “khi lên voi, khi xuống chó”.
Những người này ít nhiều có hiểu biết đâu là tốt, đâu là xấu, những gì đem lại lợi ích và những gì đem lại bất lợi, nhưng họ thường chỉ thấy biết trên bề mặt của vấn đề/ hiện tượng mà không thấy bản chất của vấn đề/ hiện tượng. Họ là những kẻ “theo dòng”, hay gió cuốn chiều nào thì lay theo chiều đó, trôi nổi dật dờ theo trào lưu và xu hướng chung của xã hội. Trong số họ, nếu có đủ thông minh, tài trí và gặp thời thì có thể trở thành những “ngôi sao” hay những nhà lãnh đạo, có khi giàu có và nổi tiếng, thậm chí còn có thể trở thành thần tượng cho đám đông. Nhưng khi được đám đông hoan hô và tán thưởng không bõ cho khi bị nguyền rủa và chà đạp cũng bởi đám đông đó, hay bởi một đám đông khác bất đồng quan điểm, khác niềm tin, đối nghịch.
2. Nguồn gốc và Động lực
Trong tâm lý và triết học Phật Giáo, nguyên nhân hay động lực được chia thành hai nhóm.
(1) Thiện căn (kusalamūla) bao gồm vô tham (không keo kiệt bủn xỉn, không ham muốn nhiều, tri túc hay biết đủ); vô sân (từ hoà và bi mẫn); và vô si (hiểu biết và sáng suốt). Những suy nghĩ, lời nói và hành động bắt nguồn từ một trong ba thiện căn này được gọi là thiện hành (puññābhisankhārā). Thiện hành cũng thường được miêu tả như là bố thí, cúng dường, biết ơn, cung kính, hoà ái, có tấm lòng rộng rãi và bao dung, hay làm từ thiện, ham học hỏi và ưa gần gũi các bậc thiện tri thức, hoan hỷ chỉ bày và giúp đỡ, khuyến khích người cùng làm thiện, trì giữ năm giới và nói chung là hành Thập Thiện, Thiền định, vv.
(2) Bất thiện căn (akusalamūla) bao gồm tham lam, sân hận, và si mê. Những hành vi xuất phát từ những bất thiện căn này được gọi là bất thiện hành (abhuññābhisankhārā). Những bất thiện hành này đã được đề cập đến ở những trang trước.
Hầu hết những hành động xấu ác, phạm pháp và không thiện xảo đều bắt nguồn từ cái tâm bất chính bị vô minh hay si mê dẫn dắt. Nhưng cũng có những hành động tưởng như tốt, có vẻ như từ thiện và khôn khéo nhưng lại chỉ xuất phát từ động lực vụ lợi, nghĩa là tham. Đôi khi người ta làm phước chỉ vì tham lam hay ngã mạn như muốn được khen ngợi là người tốt, muốn được chú ý đến, muốn được quả báo tốt đẹp cho đời này hay đời sau, muốn được sanh lên cõi trời, vv. Đôi khi người ta hô hào cổ vũ người khác làm điều mà họ cho là tốt như hy sinh cho tổ quốc đồng bào, yêu nước hơn yêu thân, vv, nhưng bản thân người hô hào lại không làm như vậy. Hoặc những điều mà họ cho là tốt đẹp thực ra chỉ là kiến chấp có gốc rễ trong si mê và sân hận dẫn dắt người tới kỳ thị, phân biệt và tàn nhẫn. Những nghiệp tạo tác như vậy được gọi là ‘nghiệp lốm đốm’- nghĩa là những hành động có động lực không rõ ràng minh bạch.
Có khi những động lực có vẻ như tốt nhưng lại cho kết quả không tốt đẹp gì. Người ta nói về một xã hội “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, một xã hội không có tư hữu và cạnh tranh nhưng kết quả lại khá bi thảm vì chúng sanh phần lớn lại khá tham lam, lười biếng và vô trách nhiệm. (Tư hữu và cạnh tranh thường bắt nguồn từ tham lam và ngã mạn). Chúng ta đã chứng kiến nền kinh tế tập trung sụp đổ ra sao vì nó gián tiếp tạo ra nạn cửa công cửa quyền, nạn quan liêu, và bao cấp dẫn đến nạn vô trách nhiệm. Chung qui lại tất cả những hiện tượng đó đều bắt nguồn từ một ý tưởng thiếu sáng suốt và thiếu thực tế mặc dù nhìn qua thì ý tưởng đó rất cao thượng và có vẻ logic. Đó chính là vô minh. Mọi ý tưởng đều không nằm ngoài vô minh, dù là Xã hội chủ nghiã (socialist) hay Tư bản chủ nghĩa (capitalist), dù là kinh tế thị trường hay kinh tế tập trung. Một ý tưởng (vô minh) có thể đưa người ta đi xa vạn dặm (hành). Đôi khi có vẻ như thành công, hạnh phúc và thoả mãn. Nhưng rồi thời cuộc đổi thay, những lý tưởng, tiền đồ và sự nghiệp mà ta đã dày công tạo lập bỗng chốc sụp đổ như lâu đài trên cát. Người ta mất phương hướng, người ta tuyệt vọng, người ta thở dài than thân trách phận, hay trở nên bi quan yếm thế, hay cay cú, hoài nghi…
Xã hội loài người đã có những bước tiến bộ khá ngoạn mục. Từ thời đại đồ đá chuyển đến thời đại đồ đồng. Từ đời sống du mục đến đời sống canh tác định cư và đô thị hoá; từ nền kinh tế nông nghiệp đến công nghiệp và thương mại. Cùng với sự phát triển về kinh tế và vật chất, con người cũng có vẻ ngày càng văn minh và cư xử với nhau tử tế hơn chăng? Trong một giai đoạn lịch sử, xã hội loài người đã từng tồn tại chế độ nô lệ. Những người nô lệ thường bị đối xử tàn bạo như súc vật, họ không có quyền gì cả, ngay cả quyền làm người. Thật đáng tiếc, trong xã hội được gọi là văn minh và tiến bộ của chúng ta ngày nay tệ nạn này vẫn còn, có những người chồng, người cha xem vợ con như nô lệ. Trong một số hệ thống tôn giáo và thần quyền, người phụ nữ cũng bị lợi dụng và áp bức bởi những luật lệ và cách cư xử rất thiếu công bằng và phi nhân bản. Những hành động tàn bạo này bắt nguồn từ ý tưởng chủ-tớ, sang-hèn, có quyền lực và không có quyền lực, ông chủ và kẻ làm thuê, tư tưởng trọng nam khinh nữ, vv.
Mọi ý tưởng hay tư tưởng xuất phát từ vô minh, dù mới hình thành hay đã tiêm nhiễm nhiều đời (có tính truyền thống), đều có khả năng đẩy người ta tới hành động bất thiện và phi nhân bản. Mọi tư tưởng hay ý tưởng khiến người ta đối xử tồi tệ với nhau đều bắt nguồn từ vô minh. Ở cấp độ này vô minh là sự thiếu hiểu biết về những chân lý trong đời sống mà thuật ngữ Phật học gọi là Tứ Diệu Đế- bốn sự thực cao quí, và Tam Pháp Ấn- ba dấu hiệu không đổi của mọi hiện hữu. Vì vô minh người ta không thấy rằng bản chất của đời sống vốn không toại nguyện. Vì sao đời sống lại không toại nguyện? Phải chăng Đạo Phật dạy người ta cái nhìn yếm thế bi quan trước cuộc đời?
3. Vô thường
Chúng ta đều thấy rằng có những người đủ tài trí thông minh, may mắn và đủ khả năng tạo dựng hạnh phúc, thành công trong đời họ, như vậy không phải là họ đã có được một cuộc đời toại nguyện ư? Vâng. Chúng ta hoàn toàn có thể đạt được hạnh phúc và ít nhiều những mức độ thoả mãn nào đó trong cuộc sống. Khi nói về Sự Thật của Khổ (dukkha sacca), Đức Phật không phủ nhận hạnh phúc của thế gian, nhưng ngài hướng chúng ta đến một cái nhìn sâu xa hơn, đó là những gì đi kèm với cái mà chúng ta gọi là hạnh phúc và toại nguyện trong đời. Những đổi thay của thiên nhiên, những đổi thay của thời cuộc, những đổi thay của lòng người khiến mọi vật thể, mọi hiện tượng, mọi ý tưởng, mọi tình cảm và mọi mối quan hệ trở nên bấp bênh không bền vững. Khi những đổi thay theo chiều hướng mà ta mong muốn thì hy vọng tăng trưởng, ta nuôi hy vọng và ít nhiều cảm thấy hạnh phúc thoả mãn với đời sống. Khi những sự đổi thay không như ta mong cầu thì ta thất vọng, đau khổ và bất mãn. Nhưng thử hỏi có ai có thể ra lệnh cho thời tiết đừng đổi thay? Có ai không già và không chết? Có ai luôn luôn dịu dàng, lịch lãm, phóng khoáng và hào hiệp như khi đang yêu? Đổi thay chính là qui luật duy nhất không thay đổi, nhưng vì thủ chấp, bám víu và ngu muội chúng ta làm như mọi vật phải theo ý ta, và chúng ta đau khổ vì sự ngốc nghếch này không ít.
4. Khổ và Nguyên nhân của Khổ
Tất cả mọi người đã được sinh ra đều bình đẳng trước đau khổ. Đau khổ là hệ quả của bám níu và thủ chấp vốn không chịu chấp nhận sự đổi thay tất yếu. Khi còn trẻ tuổi ta mong rằng lớn lên ta sẽ như thế này hay như thế kia. Dù rõ rệt hay tiềm ẩn, mỗi người trẻ tuổi đều tự xây một hình mẫu nào đó trong đầu và cố gắng để đạt được, hay gần hơn với thần tượng. Đối diện với thực tế không như ý, nhiều thanh thiếu niên đã bất mãn, mất phương hướng và niềm tin, thậm chí chọn biện pháp tự tử để kết thúc một cuộc đời vô nghĩa. Sự thất vọng và bất mãn có nguồn gốc từ việc bám níu, thủ giữ vào những giá trị, chuẩn mực định sẵn trong đầu những ai thiếu thực tế. Nếu họ đừng xây những lâu đài trên cát, hay ít nhất cũng biết rằng mộng tưởng chỉ là những trò chơi lãng mạn không đi tới đâu, và nếu họ biết quay trở về với những gì chỉ là bình thường của cuộc sống,.. thì có lẽ nhiều bi kịch trong cuộc đời đã không xảy ra.
Đau khổ vì phản ứng một cách thiếu sáng suốt trước những đổi thay bất ngờ có thể gây ra một chuỗi sự kiện đau đầu không kiểm soát được. Chẳng hạn bạn đang lái xe vào giờ cao điểm, nạn kẹt đường đang là chuyện thường ngày trên lộ trình mà bạn phải đi qua. Có ai đó làm một cú rẽ bất ngờ ngay trước mũi xe bạn, bạn chỉ kịp thắng xe vừa đủ tránh tai nạn. trong đầu bạn hình thành những ý nghĩ bực tức và giận dữ. Không kiềm chế được bạn bóp còi inh ỏi, hay thậm chí chửi rủa kẻ đó. Những chiếc xe phía sau cũng mất kiên nhẫn và bóp còi hay tìm cách nhích lên bất chấp luật lệ. Nếu tai nạn xẩy ra, và các tài xế vẫn còn đủ mạnh để xông vào nhau hơn thua, có lẽ một cuộc ẩu đả đã xẩy ra mà hậu quả còn tai hại hơn chỉ là một vụ tai nạn. Đây chỉ là một ví dụ nhỏ trong vô số tình huống bi thảm mà những phản ứng tiêu cực có thể đem lại. Một trong chúng là những cuộc vận động quân sự và những cuộc chiến tranh được mệnh danh là ‘chống khủng bố’ mà chính phủ Mỹ đã khởi xướng nhằm trả đũa cho cuộc khủng bố ngày 11 tháng chín (11 September).
Đau khổ vì những sai lầm đã qua, đau khổ vì những hậu quả tai hại trong hiện tại, đau khổ vì không biết điều gì sẽ đến ngày mai. Và chung qui lại, có bốn điều mà mọi người đều gặp trong cuộc sống, cho dù là ông vua, là hoàng tử, là tổng thống, thủ tướng, bộ trưởng cho đến kẻ đầu đường xó chợ, kẻ ăn mày vất vưởng không nhà cửa thân thích, tất cả đều bình đẳng trước sanh, già, bệnh, chết. Bạn có thể nói: Sanh, già, bệnh, chết là lẽ tự nhiên, hà cớ gì phải bận tâm đến chúng?
Có ai trong chúng ta khi sinh ra không cất tiếng khóc vì bỗng dưng phải tiếp xúc với một môi trường hoàn toàn xa lạ? Đây chỉ mới là điểm khởi đầu cho một đời sống bấp bênh mà không phải lúc nào chúng ta cũng có thể làm chủ tình huống. Ai cũng muốn mình luôn xinh đẹp, khoẻ mạnh, vui tươi và hấp dẫn, nhưng những ước muốn này phần lớn là không được toại nguyện. Có ai trong chúng ta không phải già và chết không? Cho dù chẳng ai muốn già cả, tuổi già vẫn cứ đến, bệnh tật vẫn cứ đến không thèm hỏi ý kiến của chúng ta. Và những gì mình muốn mà không được, không muốn nhưng vẫn phải chấp nhận đều được cho là khổ. Trong cuộc đời, chúng ta phải gặp gỡ và chung sống với những người mà ta không ưa, không thương, không yêu mến, điều này thật không dễ chịu một chút nào; trong khi đó những gì ta thương yêu, trìu mến và thiết tha thì lại phải chia xa, cách trở. Dù không rơi nước mắt thì tim ta cũng đã bao phen nhói đau vì phải rời xa người/vật/ hay nơi chốn mà ta đã từng yêu mến- đây gọi là khổ của sự chia ly. Có những cuộc chia ly chỉ là tạm thời, và dù khổ sở, người ta vẫn nuôi hy vọng gặp lại người/ vật/nơi chốn mình thương yêu, nhưng cũng có những cuộc chia ly vĩnh viễn mà nỗi đau là gần như không thể nào hàn gắn.
Lại có nhưng nỗi đau do thay lòng đổi dạ. Người ta yêu mến không luôn luôn dễ thương, người đó cũng có những cá tính, những đỏng đảnh đồng bóng thất thường. Do đó từ yêu thành ghét, từ thương thành giận, từ bạn thành thù, và ngược lại. Không có gì đứng yên, không có gì là mãi mãi, nhưng vì thủ chấp bám níu vào những ý tưởng ngốc nghếch của mình, ta không đối diện người, vật và cảnh như bản chất đổi thay vốn có trong đó, nên ta phải khổ khi nhận ra sự đổi thay. Những khổ thương, khổ sầu, khổ luyến ái biệt ly, khổ tương tư mòn mỏi, khổ day dứt bi ai, mỗi mỗi những nỗi khổ chồng lên nhau thành một đống khổ!
Đời người chỉ vẻn vẹn trong ngoài một trăm năm. Trong suốt quảng thời gian đó chúng ta đã trải qua bao thăng trầm, bao sự kiện mà phần nhiều là bất như ý muốn. Chúng ta hy vọng rồi thất vọng, hạnh phúc và khổ đau, thành công và thất bại, được khen ngợi, được thương yêu, nhưng cũng nhiều khi bị chê bai, chỉ trích và ghét bỏ. Những bước thăng trầm trong cuộc đời không ai không trải qua dù ít dù nhiều.
Cuộc đời cũng giống như những con sóng: lên rồi xuống, dạt vào bờ tan biến để cho những con sóng khác tràn lên, nhưng chẳng có con sóng nào cứ lên cao mãi mãi mà không có lúc tụt xuống rồi tan biến. Có những con sóng mãnh liệt vỗ vào ghành đá tung bọt trắng xoá, có những con sóng cuồng nộ lao vào bờ, nghiền nát và đập tan mọi lực cản, nhưng cũng có những con sóng chỉ hiền hoà, lăn tăn dịu dàng êm ái vỗ nhẹ vào bờ. Những cuộc đời mà ta đã gặp cũng vậy, nhưng rốt cuộc rồi ai cũng phải chết, những hy vọng rồi thất vọng, những hạnh phúc và khổ đau, những được và mất trong cuộc đời chỉ như phù du ảo hoá. Không nhận biết được điều này, bị mê hoặc bởi ý thích và đam mê, người ta lao vào cuộc đời như lao vào cuộc chiến, cố gắng giành giật hơn thua. Trong chợ đời không ít lúc ta phải chứng kiến cảnh cá lớn nuốt cá bé, cay đắng ta thở dài mặc nhiên công nhận “chân lý thuộc về kẻ mạnh”. Vì ích kỷ và ngã chấp, người ta có thể chà đạp lên nhau để đạt được điều mình muốn. Khi không đạt được điều mình mong muốn hay không thoả mãn với đối tượng mà mình muốn bóc lột, người ta sân hận, tức tối và muốn đập phá, nghiền nát đối tượng. Tất cả những phản ứng này đều không ngoài “vô minh duyên hành” (avijja paccayā saṅkhārā) mà kết cuộc “là tạo dựng một đống khổ đau” (dukkhakkhandhassa samudayo hoti).
Bản chất của cuộc đời là bất toại nguyện. Cho dù chúng sanh có nhận ra điều này hay không thì chân lí này không vì vậy mà thay đổi. Đây không phải là cái nhìn bi quan yếm thế, mà là cái nhìn thực tế và giác tỉnh trước sự thật. Chúng sanh hầu hết đều không thấy biết điều này nên cứ lao vào “cuộc chơi” như những con thiêu thân lao vào bóng đèn. Chỉ khi thấy biết bản chất ảo hoá phù du của “cuộc chơi”, người ta mới lùi lại để nhìn nó từ một góc độ khác, một cái nhìn sâu hơn, xuyên suốt bề mặt của hiện tượng để thấy bản chất và nguyên nhân của những hiện tượng đó. Trong thuật ngữ Phật học gọi thái độ này là nhận chân nguyên nhân của đau khổ và bất toại nguyện- hai mặt của một vấn đề góp phần vào nhận thức ra Tam pháp ấn.
5- Nguyên nhân của Bất Toại Nguyện
Nếu như vô minh dẫn dắt chúng sanh đến hành động tạo tác thiện ác để rồi phải gặt hái, thọ nhận những khổ vui trong cuộc đời, thì ái dục (yêu-ghét, thương-giận, thích-không thích, vv) chính là sợi dây trói buộc, là vòng lưới bủa vây khiến chúng sanh cứ luẩn quẩn trong một vòng xoáy không lối ra gọi là luân hồi.
Vì vô minh, chúng sanh thường phản ứng theo bản năng, tìm cách giành lấy và cố giữ những gì ta thích, những gì khiến ta dễ chịu (lạc thọ). Chúng ta bị thu hút về xu hướng này một cách gần như vô thức, và cũng gần như vô thức, ta phản ứng một cách khó chịu với những gì mà ta không thích, ta tránh xa hay cố gắng đẩy lùi những cảm giác khó chịu (khổ thọ). Chính những phản ứng này khiến ta khổ hơn những diễn biến tự nhiên. Gì gọi là diễn biến tự nhiên? Đổi thay gọi là diễn biến tự nhiên, nhưng ta không muốn thay đổi nên khi thay đổi đến ta tiếc nuối, bất mãn và khó chịu. Những gì ta không thích, ta muốn nó thay đổi, ít nhất là đổi vị trí, đừng phải gần nó nữa, nhưng chúng dường như khư khư bất biến khiến ta buồn bực sân hận nhiều hơn. Thực ra không có gì bất biến cả, nhưng cảm giác của chúng ta vốn chủ quan và cảm tính nên ta thấy thời gian tâm lý. Thuật ngữ Phật học gọi đây là dục ái, hữu ái và phi hữu ái. Tìm kiếm và ngụp lặn, đắm đuối trong dục lạc hưởng thụ gọi là dục ái. Duy trì và tiếp nối, leo thang và cải thiện những hưởng thụ và khoái lạc gọi là hữu ái. Né tránh và xua đuổi, cố gắng dập tắt hay chặn đứng những gì ta không ưu, không muốn gọi là phi hữu ái. Nền tảng của tất cả những hành động và phản ứng kể trên chính là vô minh.
Vô minh trong thuật ngữ Phật học không phải bao giờ cũng dẫn đến bất thiện hành. Ở đây vô minh chính là thấy rằng sinh tử luân hồi là vui, hay nói cách khác chúng sanh không thấy nguy hiểm trong sinh tử, họ đắm nhiễm và thoả thích trong bất cứ cảnh giới nào mà họ đã được sinh ra. Ví dụ như trong cảnh người, một người đàn ông sẽ thấy người đàn bà là hấp dẫn nhất, và ngược lại, người đàn bà cũng thấy người đàn ông là hấp dẫn nhất; nhưng ở trong cảnh thú, ví dụ như con gà trống sẽ thấy con gà mái là hấp dẫn nhất, và ngược lại; những loài thú khác cũng thấy những nhân vật đồng loại với chúng là hấp dẫn, là xinh đẹp nhất. Người viết bỗng nhớ rằng ai đó đã nói rằng đối với con cóc đực thì con cóc cái là sinh vật dễ thương nhất trên thế gian! Có một câu chuyện hài hước kể rằng có một người đàn ông nọ yêu thương một người đàn bà chột mắt, anh ta thấy rằng tất cả các phụ nữ khác trên thế gian đều thừa một mắt! Điều này cũng làm cho vấn đề tự tử vì tình (hay vì tiền, vì danh dự, gì gì đi nữa) trở nên khá dễ hiểu. Trong mắt người trí những trò ngốc nghếch đó thật là vô minh. Vô minh này từ đâu ra?
Vì tâm chúng sanh đã được điều kiện hoá bởi những yếu tố khiến sinh ra trong một hình hài nào đó, trong một cảnh giới nào đó nên chúng không thấy được những gì không thuộc về tầm nhận thức của nó. Ví dụ như một đứa trẻ sinh ra ở nông thôn, suốt thời ấu thơ nó chỉ biết ruộng đồng, cây cỏ, chim muông, v.v, đối với nó những đồ chơi xa xỉ ở thị thành chẳng có ý nghĩa gì cả; và ngược lại, một đứa trẻ sinh ra và lớn lên giữa bốn bức tường xi-măng, được vây bọc bằng những toà nhà cao từng của thành phố thì thường không thấy hứng thú gì giữa cảnh thiên nhiên. Một ví dụ khác là với một người không hiểu biết gì về âm nhạc, gảy đàn cho họ nghe chẳng khác gì đàn khảy tai trâu. Cách thẩm thấu về thức ăn, mùi vị, thẩm mỹ, v.v cũng như vậy.
Chúng ta lệ thuộc vào những thói quen mà chúng ta đã được nuôi dưỡng, vào cách giáo dục mà chúng ta đã thọ nhận, vào môi trường văn hoá mà ta đã lớn lên. Nhân cách và cá tính của con người được hình thành và phát triển tùy thuộc vào những điều kiện như gia đình (cho gene di truyền, cho môi trường tuổi thơ,..), kinh tế – xã hội, văn hoá - nếp sống, vv. Những ‘vật liệu’ thô này điều kiện hóa cái bản ngã được xây dựng do chấp thủ vào chúng, đồng hoá với kinh nghiệm mà cho là ‘của ta’, là ‘ta’. Ta cho là ngon, là đẹp, là thú vị với những gì ta đã quen thuộc, và ngược lại ta cho là dở và có phản ứng nếu những thứ đó xa lạ với ta. Những giá trị mà chúng ta gắn lên các đối tượng chỉ là những giá trị tương đối và hữu hạn, nhưng cái tâm vô minh lại cho rằng chúng là tuyệt đối và vô hạn. Từ sự vô minh này dẫn đến sự bám víu, thủ giữ vào những giá trị đã được xác nhận (bằng cái tâm đã bị điều kiện hoá), và chối từ, đả kích những gì xa lạ hay không thuộc về ‘mode’ của nó. Bị hấp dẫn về những gì được cho là an toàn, dễ chịu, hợp ý,.. hay phản ứng lại những gì không hợp ý, là khó chịu, là không dễ thương,.. là hai mặt của tâm tham ái. Những phản ứng kiểu này có gốc rễ từ vô minh.
Vô minh khiến người ta có những phản ứng cực đoan vì tin tưởng rằng những giá trị mà mình đang nắm giữ là giá trị chuẩn mực duy nhất. Chiến tranh, giết chóc, tàn sát và nhiều hành động bất nhân khác đều có thể tìm thấy nguồn cội trong vô minh. Vô minh và thủ giữ dẫn người ta đến thái độ thiếu khoan hòa, thiếu bao dung và phi nhân bản. Vô minh khiến người ta thấy những giá trị giả danh, tạm bợ và phiến diện mà không thấy được bản chất thực sự của hiện hữu hay không thấy được mối tương quan, tương duyên của các hiện hữu. Ở cấp độ này vô minh được gọi là kiến chấp. Từ sự nhận thức hẹp hòi (do đã bị điều kiện hoá) người ta đi đến chỗ đả phá, hay cưỡng bức, triệt tiêu những gì không đồng quan điểm, không đồng giá trị trong nhận thức của họ. Những cuộc chiến tranh tôn giáo, những xung đột chính trị thường bắt nguồn từ kiến chấp.
Ở một mức độ vi tế hơn, vô minh chính là ngã chấp. Tại sao có những yêu-ghét, thương-thù, thích- không thích? Vì có Ta, có Người. Những gì thuộc về ta thì thương yêu, gần gũi, những gì thuộc về người thì xa lạ, dè bỉu. Chúng ta thường thiên vị cho những gì mà chúng ta thương yêu, và ngược lại, thành kiến với những gì mà chúng ta không ưa. Nhận thức về một cái Ta tồn tại độc lập và tách biệt, đặc biệt với những gì không phải là Ta khiến chúng ta có những yêu ghét và sợ hãi phát sinh từ những yêu ghét đó. Cái ta này muốn được thương yêu, muốn được kính trọng, muốn được quan tâm đến, và nói chung là nó muốn những gì khẳng định sự tồn tại độc nhất vô nhị của nó. Cái ta này không muốn bị chia sẻ, và nó sẵn sàng làm bất cứ điều gì để ngăn chặn điều đó. Cái ta này tìm mọi cách xây những bức tường thành kiên cố mà vật liệu của nó là những cảm giác, những ý tưởng và tình cảm, những mối quan hệ và hoàn cảnh dẫn đến cái hình tượng ‘ta’ trong tâm mỗi người. Chúng ta bám níu vào những hình tượng ‘ảo’ này, tìm mọi cách để bảo vệ và duy trì nó. Chúng ta cảm thấy thương tổn và căm hận khi nó bị xúc phạm. Chúng ta cảm thấy sợ hãi khi nó có nguy cơ tan rã. Chúng ta sợ sự không tồn tại, sự vô nghĩa và sự lãng quên.
Tất cả những hiện tượng kể trên chính là Ái - Thủ - Hữu, nguyên nhân của Sinh trong các mắt xích duyên sinh làm thành vòng quay bất tận của hiện hữu mà chúng ta gọi là cuộc đời. Ái- Thủ- Hữu cũng chính là Hành- tạo tác hay sáng tạo, vẽ vời trên nền tảng của vô minh. Trong Tứ Diệu Đế, vòng quay bất tận này làm thành Khổ Đế - sự thực về khổ và Tập Đế - sự thực về nguyên nhân của khổ trong mắt các bậc thánh. Khi hành giả nhận chân ra chúng, chúng mất đi vẻ thâm u và bí ẩn. Nhưng có gì là cao thượng trong đau khổ và sự hình thành đau khổ? Vâng. Chúng ta sẽ tìm ra vẻ đẹp trong khổ đau và sự mầu nhiệm mà những kinh nghiệm đó có thể thức tỉnh chúng ta trong dòng đời có vẻ như mù loà vô nghĩa này. Phần hai của bài viết này sẽ đề cập đến những giá trị đó dưới tiêu đề Bi- Trí- Dũng và Vô ngã- Vị tha.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)